THÍCH THANH
TỪ
XUÂN
TRONG CỬA THIỀN
TẬP 4
THƯỜNG
CHIẾU
Ấn Tống :
PL.2542 -1998
LỜI
ĐẦU SÁCH
Nói
đến Xuân là nói đến hoa nở, chim hót, ḷng
người nô nức đón Xuân. Nhưng Xuân đến
rồi đi, hoa nở rồi tàn, Xuân thế tục
lệ thuộc thời gian là như vậy... Chỉ có Xuân
trong đạo mới vượt khỏi thời gian, mùa
Xuân bất tận lúc nào cũng sẵn trong ḷng
người tỉnh giác.
Thế nên hằng năm mỗi
độ Xuân về, Thầy chúng tôi, Ḥa thượng
Viện trưởng Thiền viện Chân Không,
Thường Chiếu và Trúc Lâm, vào đêm Trừ tịch và
ngày Tết Nguyên Đán, thường nhắc nhở
Tăng Ni và Phật tử kiểm điểm lại
việc làm trong năm qua và
sách tấn tất cả nỗ lực tiến tu trong
năm mới, để hằng sống mùa Xuân đạo
vị:
Thương xuân bao nỗi,
thương xuân ư,
Khi chợt dừng thêu, chẳng thốt
lời.
(Khả liên vô hạn thương xuân ư,
Tận tại đ́nh châm
bất ngữ th́.)
(Thiền sư
Huyền Quang)
V́ lợi ích chung, chúng tôi xin phép Ḥa
thượng ghi lại những buổi nói chuyện
của Người tại Thiền viện Thường
Chiếu trong những năm 1990-1991-1992 để tiếp
theo quyển "Xuân Trong Cửa Thiền" tập I,
tập II và tập III. Lời dạy của Thầy chúng
tôi lúc nào cũng b́nh dị, nhưng tha thiết tâm lăo bà,
cốt sao cho hàng đệ tử nắm vững
đường lối tu hành và có một nếp sống
hài ḥa an lạc cho đến ngày viên măn đạo quả.
Tuy trong các bài pháp có những thơ
kệ trùng lặp với những năm trước, song
mỗi lần lập lại là mỗi lần mới, mỗi
lần đọc lại là mỗi lần thấm thêm ư
nghĩa Xuân trong cửa Thiền.
Chúng tôi cố gắng
ghi lại trung thực ư của Ḥa thượng Viện
trưởng để cống hiến quí bạn đọc chút quà mọn
nhân buổi đầu Xuân. Chắc khó tránh khỏi
những điều sơ sót, mong quí đôïc giả thông
cảm bỏ qua cho.
Kính ghi,
Thiền sinh khu Thường
Chiếu
Thuần Tịnh- Thuần
Chơn
Mùa an cư 1995
?
TRỌNG
TRÁCH NGƯỜI TU PHẬT
TẤT NIÊN
KỶ TỴ 1990
Theo
thông lệ hằng năm, vào đêm Trừ tịch,
Thiền viện có tổ chức buổi lễ Tất
niên. Chư Tăng Ni và Phật tử về đây chung vui và góp ư kiến xây dựng
nhắc nhở nhau tinh tiến tu hành. Đây là dịp chúng
ta ôn lại những việâc làm trong năm qua, t́m những
điểm khuyết để tu sửa và những
điểm ưu để tăng tiến. Tuy chúng ta tùy
thế tục nên có buổi liên hoan, nhưng vẫn đi
đúng chánh pháp là sách tấn nhau tiến bước trên
đường tu giải thoát.
Giờ
đây chúng tôi nêu lên một câu hỏi rất thiết
thực: Trọng trách người tu Phật là thế nào?
Câu trả lời đầy đủ nhất là trọng
trách người tu Phật gồm ba phần: một là
Giải thoát, hai là Giác ngộ, ba là Từ bi. Đó là ba
điều kiện người tu nào cũng phải có
đủ.
Vậy
tất cả Tăng Ni và Phật tử khi phát nguyện tu
theo lời Phật dạy, phải thề quyết
đập tan xiềng xích sanh tử đă áp đặt
trên con người chúng ta từ vô lượng kiếp
đến giờ. Đó là giải thoát. Giải thoát sanh
tử là một việc làm quá to lớn, người
thế gian không bao giờ dám nghĩ đến, v́ họ
cho sanh tử là một qui luật không ai thoát khỏi.
Nhưng người tu chúng ta khi đă nguyện đă
quyết th́ thế nào chúng ta cũng làm được.
Chính đức Phật khi xưa đă t́m ra con
đường giải thoát khỏi sanh tử, ngày nay chúng
ta ư thức được việc đó là chánh đáng, là
cao thượng, th́ noi gương Ngài chúng ta cũng
quyết đập tan xiềng xích sanh tử cho kỳ
được.
Kế
đến chúng ta phải quyết thắp sáng ngọn
đuốc trí tuệ trong nhà đen tối vô minh từ vô
lượng kiếp, đó là giác ngộ. Thật vậy
người tu muốn
giải thoát sanh tử th́ trước phải giác ngộ.
Đức Phật ngồi thiền dưới cội
bồ-đề và Ngài giác ngộ chứng được
tam minh: Túc mạng minh, Thiên nhăn minh và Lậu tận minh. Túc
mạng minh là trí tuệ biết rơ vô số kiếp về
trước của ḿnh. Thiên nhăn minh, c̣n gọi là sanh
tử trí, là trí thấy rơ ràng nguồn gốc sanh tử
của chúng sanh. Lậu tận minh là trí tuệ dứt
hết các lậu hoặc để giải thoát sanh
tử. Như thế chúng ta tu là phải mở sáng mắt
trí tuệ để dẹp tan đen tối vô minh .
Giải
thoát và giác ngộ được phần nào, chúng ta không
đành ḷng chỉ nhận riêng cho ḿnh mà phải
thương, phải nghĩ đến tất cả chúng
sanh đang trong nhà vô minh đen tối. Chúng ta phải
đem ánh sáng trí tuệ chính ḿnh đă được
Phật chỉ dạy để soi rọi khiến cho
tất cả cùng thoát ra khỏi cái đen tối muôn
đời và cùng tiến đến nơi an lạc.
Đây là điều chủ yếu mà tất cả
người tu Phật đều phải thực hiện.
Như
vậy trọng trách của người tu Phật nặng
hay nhẹ? Phải giải quyết sanh tử, phải
thắp sáng ngọn đuốc trí tuệ và phải có ḷng
từ bi truyền trao cho người những ǵ ḿnh đă
biết để cùng nhau thoát khỏi các khổ đau,
trọng trách này quả thật không phải nhẹ.
Nếu chúng ta không tu không tiến, th́ dù chúng ta có thương
người muốn giúp người cách mấy cũng
chỉ là nói suông thôi. Nói rơ hơn nếu chúng ta không giác ngộ
và giải thoát được phần nào mà chúng ta muốn
giúp mọi người được giác ngộ và
giải thoát, th́ cái muốn đó là hăo huyền không
thực tế. Vậy muốn thể hiện ḷng từ
bi, chúng ta phải có phần nào giác ngộ và giải thoát.
Chủ yếu chúng tôi nêu lên là để cho tất cả
quí vị thấy rơ trọng trách người tu Phật
không đơn giản mà quá to tát, chúng ta không thể xem
thường.
Muốn
giải thoát sanh tử, chúng ta cần phải biết
gốc của sanh tử là ǵ? Theo pháp Mười hai nhân
duyên, Phật dạy gốc của sanh tử là Vô minh. Vô
minh là không sáng, tức là tối tăm. Muốn phá tối
tăm chúng ta phải thắp sáng ngọn đuốc trí
tuệ. Ví dụ như có một căn nhà tối cả
ngàn năm, muốn nhà sáng ra chỉ có cách đốt đèn
th́ cái tối ngàn năm liền mất. Cũng thế
ấy vô minh chỉ mất khi có ánh sáng giác ngộ. Thế nên
trọng tâm tu Phật lấy giác ngộ làm bước
tiến đến giải thoát. Nếu không giác ngộ th́
mười hai nhân duyên cứ quay cuồng, chúng ta bị
đảo lộn trong sanh tử.
Hiện
nay, nương theo giác ngộ của đức Phật
chúng ta biết rơ manh mối của sanh tử là vô minh.
Vậy vô minh là ǵ? Trong kinh Tạp A-hàm có hai đoạn
đức Phật giải
thích như sau:
Đoạn
một:
Đức
Phật dạy: "Không biết rơ sắc tập khởi,
sắc đoạn diệt, không biết rơ thọ
tưởng hành thức tập khởi, đoạn
diệt, đó gọi là vô minh." Nói gọn hơn: Không
biết sự tập khởi của năm uẩn và
sự đoạn diệt của năm uẩn, đó là vô
minh. Vậy năm uẩn là ǵ? Tức là thân này. Ngay nơi
thân này sắc uẩn thuộc về vật chất,
thọ, tưởng, hành, thức thuộc về tinh
thần. Không biết rơ tinh thần và vật chất
của thân này gọi là vô minh, không biết rơ sự nhóm
họp và sự tan hoại của nó là vô minh. Thế th́
tất cả quí vị ở đây có ai biết rơ thân chúng
ta chưa? V́ không biết rơ nó cho nên chúng ta đang vô minh, v́
vô minh nên không dừng được ḍng sanh tử.
Đoạn
hai:
Có
một vị Tỳ-kheo hỏi ngài Xá-lợi-phất:
"Thế nào là vô minh?" Ngài đáp: "Không biết
khổ, không biết khổ tập, không biết khổ
diệt, không biết con đường đưa
đến khổ diệt, gọi là vô minh."
Theo
nghĩa ngài Xá-lợi-phất nói, người nào không
biết đúng như thật pháp Tứ đế: Khổ
tập diệt đạo, đó là người vô minh.
Như
vậy đoạn trên đức Phật giải nghĩa
sự tập khởi và sự đoạn diệt của
năm uẩn, tức là chỉ thẳng con người.
Đoạn này, ngài Xá-lợi-phất nói về Tứ
đế. Khổ đế tức là khổ sanh, già,
bệnh, chết của thân... Tập đế là nguyên nhân
của khổ là tham sân si v.v... Diệt đế và
Đạo đế là cách giải trừ khổ
để được an vui giải thoát. Đây cũng
là chỉ thân tâm này vậy. Tóm lại Phật nói vô minh là
không biết như thật bản thân chúng ta từ tinh
thần đến vật chất, không biết rơ sự
nhóm họp và sự tan
hoại của nó.
Sau
đây tôi dẫn đến
kinh Viên Giác, chương Văn-thù, đức Phật
giải thích: "Thế nào là vô minh? Tất cả chúng sanh
từ vô thủy đến nay các thứ điên
đảo, ví như người nh́n bốn hướng
thay đổi; vọng nhận tứ đại làm thân
tướng của ḿnh, bóng dáng sáu trần làm tâm
tướng của ḿnh, ví như bệnh mắt thấy
hoa đốm trong không và mặt trăng thứ hai."
Như vậy đức Phật giải nghĩa Vô minh
rất rơ. Tất cả chúng sanh từ vô thủy
đến nay do các thứ điên đảo, ví như
hướng đông lầm cho là hướng tây,
hướng nam lầm cho là hướng bắc, lầm
bốn hướng như vậy gọi là điên
đảo, tức là không thấy đúng như thật.
Đức Phật chỉ thẳng điên đảo là do
vọng nhận tứ đại làm thân tướng
của ḿnh, ư thức duyên theo bóng dáng sáu trần làm tâm
tướng của ḿnh. Hiện giờ ai cũng cho thân
tứ đại này là thân ḿnh, cho suy nghĩ, tức là ư
thức duyên theo bóng dáng sáu trần là tâm ḿnh. Vọng
nhận như thế gọi là vô minh, đó là manh mối
dẫn chúng ta đi trong luân hồi sanh tử. Thế nên
chúng ta tu là phải phá tan manh mối vô minh đó.
Kế
đến đức Phật ví dụ người
vọng nhận như
vậy chẳng khác nào người bị bệnh mắt
thấy hoa đốm trong hư không. Như con mắt nhặm thấy trong
hư không có đốm sáng rơi loạn tưởng là
thật, nhưng đó chỉ do bệnh mắt mà thấy,
vậy là thấy không đúng như thật, là tối
tăm, là vô minh.
Đức
Phật lại ví dụ thêm, người vọng
nhận như vậy là
thấy mặt trăng thứ hai, mặt trăng có cái
thứ hai không? Như người nhặm mắt hoặc
ấn tay vào mắt th́ thấy mặt trăng có cái thứ
hai lóe lên một bên. Mặt trăng thứ hai là giả
tướng mà ḿnh lầm cho nó là thật. V́ vậy chúng ta
cho thân tứ đại là thân của ḿnh, tâm duyên theo bóng
dáng sáu trần là tâm của ḿnh, chấp chặt như
thế gọi là vô minh.
Qua
sự giải thích của đức Phật từ kinh
A-hàm đến kinh Viên Giác, chúng ta tự kiểm lại xem
ḿnh c̣n vô minh sâu hay cạn, dầy hay mỏng? Như thân
của chúng ta vừa bị động đến là
nổi sân si ngay, hoặc có khi chỉ bị thiếu
phần bồi dưỡng cho thân cũng nổi sân
rồi. Như vậy vô minh đến mức độ
nào? V́ chấp lầm thân tứ đại là ḿnh nên
những ǵ thuộc nhu cầu của thân th́ ḿnh xem là quan
trọng. V́ quan trọng thân nên vừa kém thua người
là ḿnh bực bội buồn khổ. C̣n tâm là ư thức duyên
theo bóng dáng sáu trần, đă là bóng th́ đâu có thật, mà
ḿnh chấp làm ǵ? Thí dụ như mắt nh́n một cái hoa
rồi ư thức đánh giá nó là đẹp, và ḿnh khen hoa
đẹp quá. Bỗng người khác nh́n hoa rồi chê hoa
xấu quá có ǵ là đẹp. Chỉ bao nhiêu đó thôi
cũng đủ làm ḿnh nổi sân lên và căi lại, phải
không? Như thế ư thức của chúng ta duyên theo bóng dáng
của hoa rồi chấp chặt vào đó, nếu ai nói
khác đi là nổi giận liền. Như vậy chứng
tỏ mê lầm của chúng ta quá lớn, mê lầm đó
Phật gọi là vô minh.
Do
mê lầm nên chúng ta sống trong đau khổ. Phật nói
thân này có sanh già bệnh và chết, nếu cho nó là ḿnh
thật, đến khi nó tan hoại tức là mất ḿnh
th́ c̣n cái khổ nào bằng! Sở dĩ các bậc Thánh nhân
và các Thiền sư ngày trước coi cái chết như
tṛ chơi v́ các ngài thấy thân là giả dối không quan
trọng, nên các ngài cười trước cái chết, dù
chết bằng cách nào cũng vậy. Chúng ta th́ khác, v́
thấy thân ḿnh là thật nên nghe nói chết là đă hốt
hoảng rồi. Giả sử khi đau nhiều ḿnh
cũng tỏ ra can đảm chịu đựng, tỏ
ra hiểu đạo không sợ chết, nhưng trong ḷng
cũng thấy nao nao. Như vậy để thấy ḿnh
chưa thật thấy thân tứ đại là giả, mà
thấy nó quả là thật nên khổ đau v́ nó, và
mấy ai thoát khỏi mê lầm này? Thế nên người
tu chúng ta phải nhận định thật đúng
để không c̣n mê lầm nữa. Hết mê lầm
tức là giác ngộ, phá tan vô minh lầm chấp về thân
và tâm. Phá hai chấp này rồi chúng ta mới giải thoát
khỏi sanh tử. Đó là mục tiêu cuối cùng của
người tu.
Tất
cả chúng ta đang sống khoẻ mạnh tưởng
chừng như ḿnh hiểu đạo và hành đạo
được, nhưng khi ngă đau hoặc có những
điều bất trắc xảy đến, th́ ḿnh
cuống quít lên không c̣n b́nh tĩnh nữa. Hiểu
đạo mà không dùng được, không c̣n tự chủ
nên đau khổ. Đau khổ của chúng ta không phải
ai mang đến mà chính v́ vô minh làm ḿnh đau khổ. Ví
như đang đi trong rừng gai góc mà không khéo lau lách nên
bị gai quào xể mặt rướm máu rồi than thở
cuộc đời sao quá khổ! Nếu đi trong rừng
gai mà khéo lau lách ra khỏi rừng không bị trầy da chút
nào mới là giỏi, là an vui.
Vậy
trên đường tu chúng ta phải thấy
được những điều Phật đă dạy.
Có những điều thật hay, mà chúng ta lại xem
thường. Nh́n lại thân tứ đại thấy nó
quá rơ. Học kinh điển rồi ai cũng nói thân này là
giả, tại sao? V́ ḿnh thuộc lời Phật dạy:
thân tứ đại là giả. Nếu hỏi giả
như thế nào? V́ thân này ngày nay c̣n, nhưng thời gian
sau nó hoại. Thật là đúng v́ thân này vô thường nay
c̣n, mai mất! Lại có người nói: Thân này do duyên
hợp nên giả, mà không biết hợp cách nào và giả
cách nào. Nghiền ngẫm cho kỹ chúng tôi thấy
được lẽ này: Nói giả không phải
đợi khi thân hoại mới nói là giả, mà ngay trong
lúc ḿnh đang ngồi, đang nói chuyện, biết nó là
giả. Làm sao biết được? V́ Phật dạy
thân này do tứ đại đất nước gió
lửa họp thành. Chất cứng là đất,
ướt là nước, động là gió, ấm là
lửa. Bốn chất đó họp lại cũng chưa
đủ sức tồn tại mà phải nhờ tứ
đại bên ngoài bồi bổ luôn. Có bồi bổ, nó
mới tồn tại, nếu thiếu sự bồi
bổ th́ nó tan hoại. V́ vậy chúng tôi đặt câu
hỏi: Hiện giờ quí vị đang ngồi đây,
mũi quí vị đang làm ǵ? Đang thở phải không?
Mũi đang thở, nghĩa là chúng ta đang mượn
không khí bên ngoài, hít vào là mượn, thở ra là trả,
mũi cứ làm việc hít vào trả ra, đều
đặn như vậy. Giả sử chúng ta trả
rồi không mượn lại th́ sao? Th́ ngay đó là
tắt thở! Như vậy đời sống của
ḿnh thật ở chỗ nào? Điều này hết sức
cụ thể, mà phải có lắm công phu mới nhận thấy
được.
Đến
mượn nước, miệng mượn một tách
nước uống vào vài tiếng đồng hồ sau
cũng phải trả. Rồi một lát sau mượn ít
chén cơm... Mượn nước để bồi
bổ nước, mượn cơm để bồi
bổ đất, trong cơm có chất nóng như gừng
tiêu ớt để bồi bổ lửa. Như vậy
chúng ta nói sống mà thật ra sống với cái ǵ? Cả
ngày chỉ lo bồi bổ cho tứ đại này thôi,
chỉ có bao nhiêu việc mượn và trả mà than
cực, nghĩa là làm cho có cơm ăn để
mượn rồi trả, kiếm có nước uống
để mượn rồi cũng trả. Như thế
cuộc sống của chúng ta chỉ là cuộc sống
mượn trả. Nếu mượn trả
được êm xuôi th́ vui cười, mượn trả
mà trục trặc th́ sao? Th́ chở đi cứu cấp!
Như vậy cuộc đời của ḿnh, hạnh phúc
của ḿnh ra sao? Nó quá tầm thường và quá mỏng
manh. Những người t́m thức ăn ngon, nước
uống bổ, tất cả những thứ đó
chẳng qua là mượn trả mà thôi. Khi thiếu
nước, uống một ly nước lă hay một ly
nước chanh cũng là mượn, không nên coi đó là
quan trọng hay v́ đó mà phiền năo, nước chanh hay
nước lă uống vào cũng là mượn rồi
trả có ai giữ được đâu! Biết
được lẽ thật như vậy th́ lúc nào
cũng an vui trong cuộc sống tu hành. Mượn ít chén
cơm để bồi phần đất của ḿnh. Dù
được dọn cơm nóng hay cơm nguội, mượn
rồi cũng phải trả có ai giữ được
đâu mà quí mà tiện, mà giận hờn nhau. Biết
được lư mượn trả cụ thể,
biết được lẽ thật đó rồi chúng ta
không c̣n phiền năo trong cách đối xử qua lại
nữa, dù cách đối xử hữu ư hay vô t́nh, niềm
nở hay lạnh nhạt.
V́
chấp sai lầm không thấy đúng lẽ thật nên
chúng ta phiền năo măi rồi than, sao ở giữa
đời này thật khó tu quá. Không khí đang ở ngoài
trong lành, mượn hít vào rồi trả ra nói cái đó là
của tôi. Nước đang ở ngoài mượn
uống vào một lát lại trả ra, nói cái đó là
của ḿnh. Quả thật là mê muội, có cái ǵ là của
ḿnh đâu!
Tất
cả cuộc sống của chúng ta chỉ là chuyện mượn trả,
cuối cùng một bộ phận nào hư mượn không
được, th́ ngang đó là vĩnh biệt. Thấy rơ
như vậy chúng ta đă
giải quyết bao nhiêu thứ phiền năo, trái lại
chỉ nghĩ đến ăn ngon mặc đẹp th́
bao nhiêu thứ phiền năo sanh khởi.
Thấy được lẽ
thật rồi , chúng tôi liền làm bài tụng rất
đơn giản gọi là "Mạng Sống":
Mạng sống trong hơi
thở,
Trong nhịp đập
quả tim.
Thế nào là mạng
sống?
Sự vay mượn liên
tục.
Câu
kết phải công phu lắm mới thấy
được lẽ đó, chớ không phải là
thường. Chúng ta cứ nghĩ ḿnh sống, chớ không
ngờ sống chỉ là sự vay mượn liên tục.
C̣n tiếp tục vay mượn là c̣n sống, vay
mượn ngừng lại là chết ngay. Như vậy
sống bằng vay mượn, làm sao gọi là sống
thật? Mà không thật th́ đâu có ǵ quan trọng. V́ cho
cuộc sống là quan trọng, nên chúng ta tranh giành nhau, trách
cứ và hờn giận lẫn nhau rồi bị
chướng ngại trên đường tu hành. Bài kệ
này không phải ngẫu nhiên có mà do suy gẫm đúng theo
lời Phật dạy, trầm ngâm rất nhiều
thời giờ, khi nói lên được điều này
mới thấy cuộc đời bớt khổ. Phải
hằng sống và nhớ được như vậy,
chúng ta cũng bớt khổ.
Đức
Phật đă từng nói: "Mạng sống trong hơi
thở." Thật vậy, thở ra mà không mượn
không khí trở lại th́ chết ngay. Trong kinh, Phật
hỏi các thầy Tỳ-kheo: Mạng sống con
người là bao lâu? Có vị nói: năm ba tháng, có vị
nói năm bảy ngày, có vị nói ít tiếng đồng
hồ, có vị thưa trong một bữa ăn. Nhưng
Phật đều bảo: Các ông không thấy đạo.
Cuối cùng có một vị Tỳ-kheo thưa: Mạng
sống trong hơi thở. Phật nói: Ông đă thấy
đạo. Như vậy đạo là ǵ? Là chân lư, là
lẽ thật, thấy được lẽ thật
gọi là thấy đạo, thấy đạo là giác
ngộ. Thấy rơ thân chúng ta là vay mượn, là tạm
bợ, ngắn ngủi đó là chúng ta đă tỉnh đă
giác, c̣n thấy thân là thật, là lâu dài quí trọng, đó là
chúng ta đang mê, đang vô minh.
Mạng
sống trong hơi thở, trong nhịp đập quả
tim. Như người bị bệnh tim, bất chợt
tim ngưng đập th́ sao? Tức là chết rồi,
như vậy làm sao nói mạng sống là lâu dài bền
bỉ được. Không mượn không khí để
thở là chết, quả tim ngừng đập là
chết, vậy đâu có ǵ là lâu dài! C̣n liên tục vay
mượn không khí hít vào thở ra, quả tim c̣n
đập không dừng, đó là sống. Cho nên nói sống
là động, rất là hợp lư, động là
mượn trả, dừng cái động là chết.
Mạng sống của ḿnh chỉ là như vậy, thế
mà chúng ta cứ tưởng nó lâu dài bền bỉ, sống
đến bảy mươi, tám mươi tuổi, không
ngờ cái chết lúc nào cũng chực sẵn bên cạnh
ḿnh. Đó là điều hết sức quan trọng,
nhận thấy được như vậy không phải
là chuyện dễ. Chúng ta thấy theo Kinh hoặc hiểu
theo lời Phật mà không chiêm nghiệm th́ cái thấy
đó không đến được lẽ thật. V́
thế Phật dạy văn tư tu, nghĩa là Phật nói
ḿnh phải nghe, rồi suy gẫm cho thấm th́ việc tu
mới dễ. Nếu nghe Phật dạy thân này là giả
rồi ḿnh học thuộc ḷng mà rốt cuộc không
biết nó giả như thế nào, chỉ nói giả ở
miệng thôi chớ trong tâm trí ḿnh không có ǵ dính dáng. Nếu
tâm trí suy gẫm thấy được tường
tận lẽ thật đó là đă giác, là đă mồi
được đuốc trí tuệ của đức
Phật.
Kế
đến là thấy tâm ḿnh cũng hư dối, không
thật. V́ sao? Như trong kinh Lăng Nghiêm Phật hỏi:
Cái ǵ là tâm? Ngài A-nan thưa: Cái hay suy nghĩ là tâm (Năng
suy vi tâm). Ngài liền bị Phật quở: đó là sai, nên
Ngài mờ mịt không biết cách nào giải tỏa. Ngày
nay chúng ta cũng giống như ngài A-nan cho cái suy nghĩ là
tâm ḿnh. Vậy làm sao theo kinh nghiệm bản thân chúng ta
biết được cái hay suy nghĩ là giả không
phải là tâm? Khi ngồi tu chúng tôi chiêm nghiệm mới thấy
được điều đó, chúng tôi chia cái giả làm
bốn thứ:
1-
Nếu cái suy nghĩ là tâm th́ nó liên tục không dứt,
nhưng có khi nó dừng nghĩ chừng một vài phút, lúc
đó là có ḿnh hay không? Như lúc ngồi thiền có khi
năm, mười phút không niệm khởi, không suy nghĩ,
th́ lúc ấy không có ḿnh sao? Nhưng ḿnh lúc nào cũng
hiện hữu mà! Nếu chấp cái suy nghĩ là ḿnh th́ khi
không suy nghĩ tức là không có ḿnh chớ ǵ, đó là cái sai
lầm thứ nhất.
2-
Nếu cái suy nghĩ là ḿnh, th́ ḿnh là một hay nhiều? Ai
cũng biết ḿnh chỉ có một thôi, mà cái suy nghĩ th́
quá nhiều, nghĩ tốt nghĩ xấu, nghĩ hiền
nghĩ dữ v.v... trong tất cả trăm ngàn thứ
nghĩ đó cái nào là ḿnh? Thế nên cho cái suy nghĩ là ḿnh
th́ không hợp lư, đó là cái sai lầm thứ hai.
3-
Nếu gọi cái suy nghĩ là tâm ḿnh, th́ sai lầm này
chỉ người có tu mới biết, nếu chưa tu
không bao giờ biết được. Như khi vừa
dấy nghĩ ḿnh liền t́m cái nghĩ này từ đâu ra,
nh́n lại th́ nó mất tăm mất dạng. Vậy cái
suy nghĩ này chỉ là bóng thôi, đâu có thật, v́ là bóng
nên vừa nh́n lại t́m nó liền mất. Chúng tôi
thường thí dụ: Như có một vị Tăng
ở tại Thiền viện Thường Chiếu, có
duyên cớ ra ngoài cổng gần đường. Có
người hỏi: Thầy đó ở đâu? Đáp:
Thầy ở trong Thiền viện. Nếu vị Tăng
đó có việc trở vào Thiền viện, người
khác hỏi: Thầy khi năy đâu rồi? Đáp: Thầy
đó trở vào Thiền viện. Như vậy thầy
phải có nơi ở, rồi phải có chỗ trở
về. C̣n nếu hỏi Thầy đó ở đâu, t́m
lại th́ Thầy mất tiêu, người ta sẽ bảo
đó là hồn ma bóng quế chớ đâu phải
thật. Nếu là thật th́ phải có mặt ở
đây, rồi khi vắng mặt ở đây th́ phải có
chỗ trở về.
C̣n cái suy nghĩ nếu là
thật, khi t́m lại, nó phải trú ở một chỗ
nào, nhưng khi t́m lại nó mất tiêu không bóng không h́nh th́
làm sao thật được. Đó là cái sai lầm thứ
ba.
4-
Có khi chúng ta suy nghĩ một vấn đề ǵ, có khi
chúng ta ngồi chơi một cách yên ổn tự tại
không suy nghĩ ǵ hết. Như vậy khi suy nghĩ ḿnh
biết có suy nghĩ, khi không suy nghĩ ḿnh biết lúc
đó không suy nghĩ. Thế nên cái suy nghĩ và cái không suy
nghĩ là cái bị ḿnh biết, bị ḿnh thấy. Tỉ
dụ như tôi là chủ ngồi trong thất, có năm,
bảy người khách đến, tôi biết khách
đến. Một lát khách ra về, trong thất chỉ c̣n
có ḿnh tôi, tôi biết lúc này không khách, phải không? Tôi
biết có khách tôi biết không khách, vậy tôi là chủ.
Cũng
như vậy, có suy nghĩ ḿnh biết, không suy nghĩ ḿnh
biết, th́ suy nghĩ là khách, cái biết là chủ chớ
ǵ? Thế mà lâu nay ḿnh nhận khách làm chủ, cho suy nghĩ
là ḿnh, cho nên Phật nói chúng ta nhận giặc làm con. V́ mê
lầm nhận giặc làm con cho nên bao nhiêu sự nghiệp
của chúng ta đều tan hoang hết. Đó là cái sai
lầm thứ tư.
Kinh
nghiệm trong sự tu hành cho chúng ta thấy rơ tâm suy
nghĩ của ḿnh chẳng qua là bóng dáng tạm bợ không
thật mà lâu nay ḿnh lại chấp lầm nó là thật.
Biết được cái suy nghĩ là bóng dáng không thật
th́ cái nghĩ phải của người này hay cái nghĩ
phải của người kia cũng đều là bóng,
đâu có ǵ quan trọng mà giận hờn mà tranh phải
quấy với nhau, không có ǵ quan trọng th́ làm ǵ có
phiền năo.
Tất
cả chúng ta sở dĩ khổ đau không ngoài hai cái
chấp thân và tâm. V́ mê lầm chấp sai nên chúng ta tạo
không biết bao nhiêu nghiệp khổ. Phật nói đó là vô
minh. Từ mê lầm là hoặc, rồi tạo thành
nghiệp và thọ khổ.
Hoặc, nghiệp, khổ, cứ như vậy mà trầm
luân muôn kiếp. Hiện nay biết rơ thân và tâm này là giả
dối chúng ta phải làm ǵ, chớ không thể bi quan tiêu
cực rồi thả trôi cả cuộc đời. Chúng
tôi cho một thí dụ: Chúng ta giống như những
kẻ đi ngoài sông lớn trên một chiếc thuyền,
bất thần bị sóng to gió lớn đập vỡ
thuyền, chúng ta bị ch́m. Bất chợt chúng ta gặp
được một gốc cây mục, nổi lờ
đờ trên mặt nước. Chúng ta ôm gốc cây
mục th́ ngay đó chúng ta phải có thái độ nào?
Biết ḿnh đang ôm gốc cây mục và đang ở
giữa ḍng, nếu buông gốc cây th́ chết ch́m, vậy
gốc cây mục đối với ḿnh rất là quí.
Nhưng nó mục, đâu có bền, th́ ngay bây giờ
phải mượn nó bơi gấp vào bờ. Đến
bờ rồi th́ gốc cây mục là vô nghĩa không c̣n dùng nữa.
Người khôn ngoan là phải như vậy, biết ḿnh
đang ôm gốc cây mục cho khỏi chết ch́m th́
phải cố gắng bơi cho tới bờ. Thí dụ
này nói lên thân người ví như gốc cây mục,
tạm bợ không bền chắc, nhưng chúng ta
mượn nó để làm những điều lợi ích
và cao thượng, chớ không phải bám vào nó, và bảo
vệ nó măi, đến chừng nó ră ra ḿnh lại chết
ch́m lần nữa!
Biết
thân là giả tạm chúng ta không hài ḷng với cái giả
tạm đó, mà phải cố gắng làm sao
được giác ngộ và giải thoát để rồi
chỉ cho mọi người cùng giác ngộ và giải
thoát như ḿnh. Đó là chỗ nh́n đúng của
người tu. C̣n nếu nói thân giả rồi cứ
ngồi hút thuốc ca hát vui chơi, nó đă giả rồi
làm ǵ cho phí công vô ích! Đó là quan niệm dại khờ,
phải không? H́nh ảnh người ôm gốc cây mục
ở giữa sông to nhắc nhở chúng ta phải nỗ
lực tu và làm lợi ích chúng sanh, chớ không phải
biết thân là giả, là vô thường rồi thở than
buồn khổ hoặc ăn chơi để chờ
chết. Đó là ngu dại không đúng tinh thần của
người hiểu đạo. Chính bản thân tôi trong lúc
tu và nghiền ngẫm đạo lư, chúng tôi thấy
được lẽ thật này nên tŕnh bày để quí
vị được rơ.
Chúng
ta tu là phải hằng tỉnh hằng giác biết rơ thân và
cái gọi là tâm đều giả, nên trong đời
sống tu hành nếu có ai lỡ lời nói nặng, chúng ta
biết thân và ngôn ngữ là giả th́ mọi phiền năo
theo đó sẽ hết; trái lại nếu thấy chúng là
thật th́ phiền năo nổi lên, chúng ta sẽ xâu kết
lại và gồng gánh cho đến suốt đời.
Nếu không thấy đúng như thật th́ không sao gỡ
được phiền năo, dù có kêu cầu cứu cũng
không ai gỡ được cho ḿnh, chính trí tuệ của
ḿnh thấy đúng như thật mới gỡ
được các phiền năo.
Trong
kinh Viên Giác chương Phổ Hiền đức Phật
nói: "Tri huyễn tức ly, bất tác phương
tiện. Ly huyễn tức giác, diệc vô tiệm
thứ." Nghĩa là: Biết huyễn tức là ĺa.
Biết thân này là giả, tâm này là giả th́ mọi ràng
buộc về nó chúng ta đều ĺa bỏ
được một cách dễ dàng, không cần tạo
phương tiện ǵ. Thật vậy, chúng ta tu mà cứ
nghĩ mà phải tạo phương tiện này hay
phương tiện kia, nhưng sự thật Phật
dạy: Chỉ thấy rơ thân, tâm là giả, liền ĺa
hết các thứ phiền năo, các thứ trói buộc.
Ly
huyễn tức giác: Biết đó là huyễn, ḿnh không c̣n
bám chặt vào nữa, đó là giác rồi. Diệc vô
tiệm thứ, tức là giác không có thứ lớp, đó
là giác liền, không có nói nay một phần, mai một
phần chi hết.
Như
vậy trên đường tu, chúng ta phải thấy thân và
tâm này là hư dối, huyễn hóa, thấy rơ như vậy
tức là giác, giác rồi là cái vô minh muôn đời cũng
tan hết, giống như cái nhà tối bao nhiêu năm, chúng
ta thắp lên ngọn đèn liền sáng. Nếu hết vô
minh tức dứt ḍng sanh tử. Thế nên trong kinh
Phật nói: Vô minh diệt th́ hành diệt... Con
đường tu của chúng ta đă quá rơ ràng không có nghi
ngờ ǵ nữa.
Người
thật tu có thần thông biết quá khứ vị lai hay
không? Có biết căn cốt đời trước
của Phật tử chăng? Có biết đoán coi
Phật tử bao giờ hết khổ? Chúng tôi thường
được hỏi những câu như vậy. Ít ai
nghĩ tu là phải hằng tỉnh hằng giác, thấy rơ
thân tâm chúng ta là giả dối không thật, nên những
việc đến với ḿnh, ḿnh gỡ ra dễ dàng không
bị dao động, trong nhà Thiền gọi là bát phong xuy
bất động nghĩa là tám gió thổi không
động. Tám gió là ǵ? Tức là lợi suy, hủy dự,
xưng cơ, khổ lạc. Lợi là được tài
lợi, suy là bị suy hao, hủy là bị hủy nhục,
dự là được đề cao, xưng là
được khen ngợi, cơ là bị chê hiềm,
khổ là buồn khổ, lạc là an vui. Chúng tôi sẽ cho
thí dụ hết sức dễ để quí vị thấy
chúng ta bị động v́ lợi và suy. Người ta
thường nghĩ lợi là cái thuận hợp cho ḿnh,
được lợi th́ có ǵ đâu mà phải
động. Nhưng thật ra lợi là một cái
động lớn. Giả sử như ở đây có ai
mua một vé số gởi cúng cho một thầy, và vị
thầy cũng hoan hỉ nhận. Rồi đến ngày
xổ số có người báo tin là vé số của
thầy trúng mười triệu, th́ đêm đó thầy
có ngủ được không? Trúng được
mười triệu, chắc thầy khỏi ngủ. Gió
lợi nó thổi ḿnh bay không ngủ được. Không
phải chỉ một đêm không ngủ thôi, mà khi đi lănh
tiền được mười triệu rồi, có yên
ḷng về chùa ngồi thiền như những ngày
trước hay không? Hay là được tiền rồi,
phải suy tính nên làm cái ǵ? Rồi bao nhiêu thứ nghĩ
tính sanh ra, tính trúng cũng có, tính trật cũng có, cho
đến bao giờ dùng hết số tiền đó
mới hết nghĩ tính, khi ấy mới hết
động! Quí vị thấy chỉ cái lợi thôi mà
đă bị động chừng ấy, huống nữa là
bị suy hao tài vật. Ví dụ ḿnh có nhà cao cửa
rộng hoặc chùa lớn Phật to, bất thần có
việc ǵ xảy đến khiến cho nhà cửa ḿnh tan
nát hoặc chùa chiền ḿnh bị hư sập, lúc ấy
ḿnh mất ngủ bao nhiêu ngày đêm? Trong suốt thời
gian đôi ba năm mà chưa gầy dựng lại
được, lúc nào cũng chặc lưỡi thở
dài. Như vậy quí vị thấy cái động không
phải nhất thời mà kéo dài cho đến bao giờ
b́nh lại mới thôi. Chỉ có hai gió lợi, suy mà đă
khó giữ cho không động, huống nữa là tám gió...
Hai
gió sau cùng là khổ và vui. Thí dụ như ở Thiền
viện đây cái ǵ là khổ nhất cho các huynh đệ?
Không biết các nơi khác th́ sao, chớ ở Thường
Chiếu này ai mà trị nhật phải xuống bếp
nấu ăn là khổ nhất. Tới phiên trị nhật
hoặc làm tri khố là khổ nhất, mặt mày
người nào cũng cứ nhăn nhó hoài. Gắng làm sao
tới phiên tri khố hay trị nhật mà vẫn
tươi cười, đứng trước bếp
lửa hừng hực, mồ hôi ướt đẫm mà
không có ǵ bực bội, đó là đă tiến lắm rồi,
cái khổ nhỏ mà ḿnh thắng được cũng là
hay lắm. Phần nhiều chúng ta hay nói gần lửa th́
dễ sân, nên ai vô bếp cũng dễ sân v́ nóng quá, lại
mệt nữa nên động tới là nổi sân liền.
Quí vị thấy một chút khổ đó đă
động rồi huống nữa là cái khổ đói rét
hay những khổ đau rên siết th́ c̣n động
biết là dường nào! Røồi đến cái vui cũng
vậy, nếu vui quá th́ tâm ḿnh cũng lăng xăng dao
động...
Thế
nên người tu giá trị không phải là có thần thông,
biết quá khứ vị lai, mà giá trị ở chỗ
gặp lợi ḿnh vẫn b́nh thản, gặp suy ḿnh
vẫn an ổn, cho đến gặp khổ hay vui ḿnh
cũng an nhiên, người đó mới là đạo nhân
chân chánh. C̣n nếu nói quá khứ vị lai mà bị chê
liền đỏ mặt tía tai th́ nói quá khứ vị lai
chỉ là tṛ chơi thôi. C̣n nói ngồi thiền tám tiếng
hay mười hai tiếng đồng hồ, hoặc
một ngày một đêm, mà khi động tới th́
nổi sân đó cũng chưa phải là thứ thật.
Người tu thật là ở trong tám gió vẫn thản
nhiên, thổi mấy cũng không động, thế
mới gọi là chân tu. Hôm nào quí vị thử xem c̣n
động không, nếu không động là không c̣n chấp
thân và tâm, không c̣n chấp chúng
ta mới dứt hết các khổ.
Người
tu là phải có thực lực, nghĩa là trước
những cảnh khổ đau chúng ta vẫn xem
thường. Chúng tôi thường kể câu chuyện
của Tổ Sư Tử. Khi vua nước Kế-tân
hỏi: Ngài xem thấy ngũ uẩn đều không,
phải không? Ngài đáp: Phải. Vua nói: Ngài cho tôi cái
đầu được không? Ngài trả lời: Ngũ
uẩn c̣n không, sá ǵ cái đầu. Và Ngài cho vua cắt
đầu. Đó mới gọi là thấy không thật
một cách triệt để. C̣n chúng ta nói thân là giả,
mà khi động tới th́ chịu không nổi. Như vậy
chúng ta chỉ thấy trên lời nói, chớ không sống
được với lẽ thật. Nếu thật tu th́
kết quả là tám gió thổi không động.
Đoạn
trên chúng tôi đă nói về giải thoát và giác ngộ,
giải thoát tức đập tan xiềng xích sanh tử,
giác ngộ tức dùng kiếm trí tuệ chặt đứt
sợi dây vô minh đă cột chúng ta vào ṿng trầm luân. Giác
ngộ và giải thoát rồi chúng ta c̣n phải làm ǵ? Chúng
ta phải thể hiện ḷng từ bi, tức là nguyện đem
ngọn đuốc trí tuệ soi rọi cho mọi
người thoát khỏi chỗ u tối vô minh. Phật
dạy chúng ta từ bi là khi chúng ta đă có giác ngộ và
giải thoát phần nào dù nhiều hay ít. Có nhiều
người nói: Ḿnh chưa giác ngộ như Phật làm sao
có từ bi? Chúng tôi thí dụ: Như chúng ta đang cùng
ở trong một căn nhà tối mù mịt, nếu
người nào có được cây đèn cầy và
thắp lên, tuy ánh sáng nhỏ thôi nhưng đem lại
giữa nhà th́ mọi người cùng được sáng.
Cũng như ban đêm chúng ta đang đi trên con
đường tối, nếu có ai thắp
được một cái đèn dầu nhỏ th́ gọi
những người bạn đồng hành cùng
nương theo ánh sáng đó để đi cho khỏi
rơi hầm rớt hố. Ánh sáng của ngọn đèn
tuy nhỏ nhưng rất cần cho những người
đang đi trong đêm tối. Đó là trường
hợp chúng ta tu được một chút trí tuệ và
một chút giải thoát. Nếu tu khá hay giỏi hơn chúng
ta sẽ được những ngọn đèn lớn sáng
hơn, như đèn bấm hay đèn "măng sông"
hay nếu giỏi hơn nữa như ánh sáng mặt
trăng mặt trời soi khắp cả thế giới.
Như vậy ánh sáng nào dù của đèn dầu hay của mặt
trăng mặt trời cũng có giá trị riêng của nó.
Hiện nay nếu được một chút ánh sáng nào chúng
ta cũng đều chia sớt cho mọi người cùng
hưởng để tránh những tai nạn có thể
xảy đến. Sự chia sớt đó gọi là từ
bi.
Thế
nên người Phật tử tại gia hay xuất gia không
có quyền thọ hưởng riêng một điều ǵ.
Quí vị nhớ khi tụng kinh xong th́ chúng ta cầu
nguyện công đức tu hành hướng về không
phải cho riêng ḿnh mà cho ḿnh và mọi người
đều thành Phật đạo, đó là tâm từ bi.
Phật không cho phép chúng ta làm điều ǵ chỉ nghĩ riêng ḿnh mà phải nghĩ
ḿnh và mọi người cùng chung hưởng.
Điều
cần yếu chúng ta phải nhớ có đèn rồi chúng
ta mới soi đường cho người cùng đi,
nếu chưa có đèn mà hướng dẫn người
khác th́ khi ḿnh sụp hố, những người theo ḿnh
cũng đều rớt xuống hố. Nếu từ bi,
thương xót người mà không chịu tu để
thắp sáng đuốc trí tuệ, chỉ lo cho thiên hạ,
rốt cuộc rồi ḿnh và
người đều rơi cả, đó là tai họa
lớn. Hiểu đạo Phật là chúng ta phải
hiểu cho thấu đáo lẽ này, ḷng từ bi phát ra sau
khi chúng ta có trí tuệ, được giác ngộ, hay có
phần nào tự chủ khi tám gió thổi. Được
như vậy chúng ta mới có thể phát tâm từ làm
lợi ích cho mọi người, bằng ngược
lại chúng ta phải dè dặt cẩn thận chẳng
những không làm lợi cho người lại làm hại là
khác.
Sau
khi biết rơ trọng trách của người tu Phật,
quư vị thấy trọng trách ấy có nặng không? Đó
là chuyện phi thường, chớ không phải tầm
thường. Nhiều khi chúng ta nghĩ ḿnh là một
vị Tăng hay một cô Ni không quan trọng ǵ rồi
cứ lôi thôi để qua ngày hết tháng hay dể
ngươi vui đùa năm này qua năm khác, thật uổng
phí một đời tu. Người xưa mỗi khi
chiều xuống kiểm điểm lại sự tu hành
thấy chưa tiến bộ được bao nhiêu,
đau khổ rơi nước mắt. C̣n chúng ta ngày nay
năm đă hết, chúng ta thử kiểm điểm
lại xem đă tiến được bước nào
chưa? Nếu tu chưa tiến, chúng ta có rơi lệ
đau buồn không? Hay chúng ta cứ cười chúm chím hay
cười hỉ hạ?
Ư
thức được trách nhiệm hết sức quan
trọng của ḿnh, chúng ta quyết tâm giải thoát sanh
tử, quyết tâm thắp sáng ngọn đuốc trí
tuệ và d́u dắt người ra khỏi chỗ mê
lầm tăm tối. Chúng ta không thể lơ là với
việc tu hành, không thể dể duôi để ngày tháng qua
suông mà phải luôn luôn nỗ lực tiến tu.
]
(Tăng Ni)
Hôm
nay là ngày đầu Xuân năm Canh Ngọ (1990), tất
cả Tăng Ni và Phật tử về đây chúc mừng
năm mới và yêu cầu chúng tôi nhắc nhở sự tu
hành để được tinh tấn hơn trên
đường đạo. Nhân ngày đầu năm chúng
tôi sẽ nói về: “Ngày Xuân qua các Thiền sư Việt
Nam.” Với đề tài này quí vị sẽ thấy rơ tinh
thần người xưa dạy bảo chúng ta như
thế nào để chúng ta cố gắng tu cho xứng
đáng là những Thiền sinh Việt Nam. Các Ngài luôn mong
muốn chúng ta mồi ngọn đuốc sáng của các
Ngài để soi đường hướng dẫn
người sau.
Nói đến ngày Xuân, chúng
ta có cảm tưởng như chỉ có Xuân ở thế
gian, nhưng thật ra trong nhà Phật cũng dùng chữ
Xuân để nói lên những ư nghĩa thâm trầm của
Đạo.
Trước tiên chúng tôi
nhắc quí vị, tất cả chúng ta có đủ
phước duyên nên ngày nay chọn được con
đường của ḿnh đang đi, một con đường
thênh thang, tươi mát và an lạc. Nói như vậy có
vẻ như chúng tôi chủ quan, nhưng sự thật
nếu tất cả chúng ta đều một ḷng
hướng thẳng về sự tu hành, đi theo con
đường đức Phật đă dạy, th́
mỗi bước đi là một bước an lành,
mỗi một bước đi là rơi rụng bao nhiêu
đau khổ. Thế nên con đường tươi
đẹp và mát mẻ chúng ta đang đi là tượng
trưng cho mùa Xuân, nhất là những ngày đầu Xuân.
Nói đến Xuân chúng ta
nghĩ đến sự ấm áp tươi vui, nghĩ
đến sự ấm no hạnh phúc. Dù cho nghèo mấy
đi nữa, ngày đầu Xuân ít ra chúng ta cũng sắm
được chút ít bánh mứt, cũng được
nghỉ đôi ba ngày Tết đầu năm. V́ vậy nói
đến ngày Xuân là nói đến sự ấm no, nói đến
sự nhẹ nhàng thanh thản.
Trong đạo, các
Thiền sư cũng dùng chữ Xuân để nhắc
nhở chúng ta. Nhờ lời khuyên dạy của các Ngài, chúng
ta càng tu càng phấn khởi hơn, càng vui thích hơn,
nếu không th́ tu lâu sẽ cảm thấy ngán và buồn.
Tại sao ngán buồn? V́ ăn chay ăn lạt suốt
đời, lại thêm thức khuya dậy sớm, bị
rầy bị quở. Cho nên ở chùa lâu ngày cảm
thấy ngán buồn nếu không t́m được nguồn
vui, nguồn vui đó các Thiền sư dùng chữ Xuân
để diễn tả. Vậy chúng ta phải cố
gắng đi măi trên con đường tươi
đẹp đă chọn dù phải vấp té trầy chân
hay gặp những ḥn sỏi phiến đá trở
ngăn. Nhưng dù những chướng ngại có khó
khăn bao nhiêu cũng không thể ngăn cản
được bước chân của những tâm hồn
khoáng đạt, của những con người nguyện
quyết tiến đến chỗ an lạc miên viễn
mới thôi. Người tu là người thấy
tương lai ḿnh xán lạn tươi vui, chớ không
phải càng tu rồi càng tối tăm đau khổ. Chính
mỗi bước tu là mỗi bước chúng ta huớng
về mục tiêu cao quí nhất, an lạc nhất của
đời ḿnh. V́ vậy khi nói đến ngày Xuân chúng ta
cảm nhận một niềm vui tràn đầy ở ngày
mai.
Các Thiền sư Việt
Nam nh́n ngày Xuân như thế nào?
Đầu tiên là Thiền
sư Chân Không ở giữa đời Lư. Có một
Thiền khách đến hỏi Ngài: “Bạch Ḥa
thượng, khi sắc thân bại hoại th́ thế nào?”
Ngài liền đáp bằng
hai câu thơ:
Xuân
đến, Xuân đi ngỡ Xuân hết,
Hoa nơ,û hoa tàn chỉ là
Xuân.
Ngài quan niệm tu là một
mùa Xuân, không phải chỉ mùa Xuân trong ba tháng mà mùa Xuân muôn
đời muôn kiếp.
“Xuân
đến, Xuân đi ngỡ Xuân hết”
Thấy có Xuân đến
Xuân đi v́ chúng ta nh́n Xuân qua bốn mùa của thời gian.
Nhưng ở đây Thiền sư không nói Xuân của
thời gian mà nói Xuân của tất cả người thoát
khỏi cái sanh diệt của thời gian. Thường
người đời thấy Xuân qua ngỡ là Xuân
hết, song đối với người tu xuất
thế th́ Xuân lúc nào cũng sẵn ở ḷng ḿnh, ngày nào tháng
nào năm nào cũng là Xuân, nh́n đâu cũng tươi
đẹp, nh́n đâu cũng an vui. Nhưng trên thực
tế th́ thế nào? Cũng có những ngày mây sầu
ảm đạm, nhiều người lau nước
mắt!
Tuy vẫn là Xuân nhưng v́
mây mưa bao phủ nên Xuân bị khuất đi. Nếu tâm
hồn chúng ta an lành tự tại th́ ngày nào chẳng
phải là Xuân?
“Hoa
nở, hoa tàn chỉ là Xuân”
Mùa Xuân thấy hoa mai
nở, đa số người cho đó là Xuân, rồi
độ mười ngày sau hoa tàn th́ cảm thấy Xuân
tàn. Nhưng ở đây Thiền sư Chân Không mượn
hoa để trả lời câu hỏi của Thiền
khách: “Khi sắc thân bại hoại th́ thế nào?” Hoa
nở rồi tàn, sắc thân chúng ta cũng như hoa, sanh ra
rồi già chết, không có lâu bền. Nhưng trong cái tan
hoạïi đó, vẫn có cái măi măi an lành tỉnh giác.
Thế nên Thiền sư mượn Xuân để
tượng trưng cho cái ấy. Nếu biết khéo
trở về cái chân thật của ḿnh, th́ thân này c̣n hay
mất chỉ là tạm bợ, c̣n cái chân thật lúc nào
cũng thanh tịnh, sáng suốt, trong kinh gọi đó là
Pháp thân, Pháp thân thanh tịnh, miên viễn, không tan hoại.
Tất cả sự
vật đều bị thời gian chi phối, có đó
rồi hoại đó. Thân chúng ta cũng vậy, theo
thời gian mà bại hoại. Nếu chúng ta không biết trở
về với thể chân thật của chính ḿnh th́ khi
sắc thân bại hoại chúng ta đau khổ vô ngần.
Thế nên sống được với thể chân
thật không sanh không diệt th́ ngày nào cũng là Xuân, lúc nào
cũng là Xuân và miên viễn là Xuân.
Vậy cái nh́n của
Thiền sư Chân Không là thấy tất cả đều
là Xuân, cho nên Ngài sống an lạc trong mùa Xuân miên viễn
đó. Nếu có ai đến hỏi đạo Ngài
đều diễn tả cái đẹp, cái an lành của
chính ḷng ḿnh cho mọi người thấy và cảm thông.
Kế đến là
Thiền sư đời Trần, ngài Trúc Lâm
Đầu-đà, hiệu là Điều Ngự Giác Hoàng
(tức là vua Trần Nhân Tông khi c̣n tại vị). Sau khi
đi tu, đến năm sáu mươi mốt tuổi,
Ngài được tin người chị đang đau
nặng, Bà muốn gặp Ngài để từ giă lần
cuối. Từ núi Yên Tử Ngài liền trở về
triều. Thăm chị xong, trên đường về núi,
khi đến chùa Làng Hương Cổ Châu, Ngài cảm
thấy sức khỏe đă quá yếu, và biết không c̣n
sống bao lâu nữa, Ngài cảm hứng viết một
bài kệ trên vách chùa:
Thế
số nhất tức mặc
Thời t́nh lưỡng
hải ngân,
Ma cung hồn quản
thậm
Phật quốc bất
thắng Xuân.
Dịch
:
Số
đời một hơi thở
Biển bạc ḷng
người tham,
Cung ma cai quản ngặt
Cơi Phật Xuân nào hơn.
Qua bài kệ này ngài Trúc Lâm
Đầu-đà muốn nói lên điều ǵ?
“Số đời một
hơi thở, biển bạc ḷng người tham”, khi
bản thân sắp tàn Ngài thấy cuộc đời
ngắn ngủi như trong hơi thở, thở ra không hít
vào là đă qua đời khác. Thế mà ḷng người th́
mênh mông, mênh mông trong tham vọng. Được cái này
muốn cái kia, được điều kia muốn điều
khác. Như vừa cất cái nhà xong kế muốn có
chiếc xe, vừa có chiếc xe lại muốn có chiếc
tàu... muốn măi không thôi cho đến ngày tắt thở
cũng chưa dừng. Thế rồi người ta
đuổi theo nhau mà tạo nghiệp, giành nhau về danh
về lợi rồi tự ḿnh chuốc khổ.
Hai câu đầu của bài
kệ đánh thức mạnh mẽ để chúng ta
biết rằng cuộc đời quá ngắn ngủi,
không có ǵ là quan trọng, là đáng kể. Nhưng ḷng tham
chúng ta quá lớn, nên không theo kịp tuổi thọ của
ḿnh. Chúng ta muốn mười điều, mà tuổi
thọ cho phép chúng ta làm mới có một hai th́ cái chết
đă đến rồi! Bất cứ người nào
trước khi nhắm mắt đều tỏ ra chưa
hài ḷng, việc làm đời ḿnh chưa xong. Rất ít
người nói ḿnh đă làm xong việc. Nếu là cha th́ lo
cho con lớn khôn ăn học, rồi có đôi bạn. Lo
cho con xong, lại thấy trách nhiệm phải lo cho cháu.
Đến khi cháu lớn khôn th́ ḿnh đă tám mươi,
chín mươi tuổi rồi! Đến cháu cố nó
bơ vơ nghèo thiếu ḿnh lại tiếp tục lo
nữa, lo măi cho đến ngày tắt thở cũng
chưa xong! Người ở thế gian đều ôm ḷng
tham lớn lao đó nên luôn luôn sợ chết, chết mà
chưa rồi những việc ḿnh muốn làm. Sợ
chết mà có tránh khỏi được đâu! Thế nên
chúng ta phải ư thức rơ tuổi thọ chúng ta ngắn
ngủi, làm việc ǵ cũng phải vừa với
tuổi thọ của ḿnh để cho tṛn việc.
Đến hai câu cuối
bài kệ:
Cung
ma cai quản ngặt
Cơi Phật Xuân nào hơn.
Ngài Trúc Lâm so sánh cho chúng ta
thấy hai con đường. Nếu chúng ta đuổi
theo danh lợi tài sắc, rồi tạo bao nhiêu nghiệp
xấu ác th́ chúng ta sẽ đi tới cung ma. Cung ma cai
quản ngặt, không được bước ra khỏi
cổng, c̣n bị hành hạ tra khảo, đó là cảnh
khổ đau đen tối. C̣n nếu trong cuộc
sống ngắn ngủi này, chúng ta biết tu, biết
hướng về đạo, đem hết tâm ḿnh
tiến đến chỗ giác ngộ thanh tịnh, đó là
chúng ta trở về cơi Phật, tức là trở về mùa
Xuân đẹp đẽ không ǵ b́ kịp.
Trong cuộc sống tu hành
không có ǵ kích động mạnh chúng ta bằng cơn vô
thường xảy đến. Chúng ta đang sống b́nh
an vui tươi, bất chợt có người huynh
đệ nào tắt thở, lúc ấy chúng ta tỉnh ngay,
muốn tu gấp, tu bằng hai ba lần những ngày
thường. Nhưng tỉnh được bao lâu?
Nhiều lắm đến bốn mươi chín ngày,
tụng kinh xong chúng ta mê trở lại như cũ. V́
vậy chúng ta cứ lảng vảng trên đường
mê, không tỉnh giác, nên chúng ta không làm được
những điều lành điều tốt để
tạo sự an lạc cho đời này và đời sau.
V́ thế ngài Trúc Lâm
Đầu-đà khuyên chúng ta phải nhớ hai con
đường, một bên là cung ma đen tối khổ
đau bị cai quản ngặt, một bên là cơi Phật an
vui tự tại lúc nào cũng là Xuân. Giữa hai con
đường đó chúng ta phải chọn
đường nào để đi? Chắc rằng
tất cả quí vị hiện có mặt ở đây
đă chọn đường rồi. Chúng ta đều
đang đi trên con đường thênh thang đẹp
đẽ, tươi mát và an lạc, con đường Xuân,
tức con đường về cơi Phật. Thử
hỏi có ai muốn trở chân đi con đường
khác hay không? Chúng ta không c̣n ngu dại ǵ mà trở chân xây
mặt đi qua con đường khác tối tăm,
mờ mịt, khổ đau. Chúng ta đă có duyên lành từ
đời trước, cho nên bây giờ mới chọn con
đường đẹp đẽ này. Mong rằng
tất cả đừng có niệm thối Bồ-đề tâm, muốn
đứng lại hay xây mặt trở qua con
đường khác. Đó là lời nhắc nhở
qua bài kệ của ngài Trúc Lâm Đầu-đà. Sau ngài Trúc
Lâm là ngài Pháp Loa, sau ngài Pháp Loa là ngài Huyền Quang. Ngài
Huyền Quang có bài thơ nói về Xuân gọi là “Xuân
Nhật Tức Sự”.
Nhị
bát giai nhân thích tú tŕ,
Tử kinh hoa hạ
chuyển hoàng ly.
Khả liên vô hạn
thương xuân ư,
Tận tại đ́nh châm
bất ngữ th́.
Dịch :
Lỏng
tay thêu gấm, gái yêu kiều,
Hoa rợp, hoàng oanh lảnh
lót kêu.
Bao nỗi thương Xuân,
thương biết mấy,
Là khi không nói, chợt
dừng thêu.
(Huệ Chi)
Bài thơ này rất
đẹp về Xuân, nhưng lại gây cho một số
học giả phê b́nh: Ngài Huyền Quang là một Thiền
sư, mà tâm Ngài c̣n dồi dào t́nh cảm! V́ sao? V́ Ngài
diễn tả một cô gái mười sáu tuổi đang
thêu gấm. Ở ngoài kia lại có hoa nở, chim hoàng oanh
hót. Thật là thương khi thấy cô gái dừng tay thêu
và im lặng không nói một lời! Như vậy có
phải là Ngài thương cô gái hay không? Đây là một
vấn đề chúng tôi nêu ra để quí vị thấy
cái hay của người xưa mà chúng ta không hiểu
được. Khi các Thiền sư nói, chúng ta đừng
kẹt ở ngữ ngôn hiện tại mà phải thấy
cái ǵ ở ngoài ngữ ngôn đó, thường gọi là “Ư
tại ngôn ngoại” tức là thấy cái ǵ ngoài kia chớ
đừng thấy ở đây.
Chúng tôi xin kể lại
một câu chuyện quí vị đă từng nghe nhiều
lần, nhưng mỗi lần kể mỗi lần có ư
vị riêng của nó. Đó là câu chuyện “Bà già đốt
am”, bà già này biết đạo. Có một Thiền khách
đến, xin bà giúp đỡ cất cho một cái am và
ủng hộ tu hành cho mau đạt kết quả. Bà
rất sẵn sàng cất cho thầy một cái am và mỗi
ngày cơm cháo đầy đủ, tứ sự cúng
dường không thiếu món chi. Thầy tu như vậy
được ba năm. Bà già tin rằng sự tu hành
của thầy được kết quả rất
tốt. Để chiêm nghiệm điều đó, bà bèn sai
một đứa cháu gái khoảng mười tám tuổi
đem cháo cho thầy dùng, xong rồi bất chợt ôm ngang
hông thầy, liền hỏi: “Ngay bây giờ th́ thế nào?”
Thầy đáp:
Khô
mộc ỷ hàn nham,
Tam Xuân vô noăn khí.
Tức là:
Cây
khô tựa núi lạnh,
Ba mùa Xuân không chút hơi
ấm.
Câu trả lời như
vậy thật quá hay, xứng đáng cho chúng ta kính lạy
phải không? Ba mùa Xuân rồi không một tí hơi ấm,
để nói rằng thầy đă khô lạnh không c̣n có
niệm ǵ với trần tục nữa. Nghe cô cháu gái về thuật lại câu
chuyện, Bà nói: “ba năm nay nuôi một ông thầy phàm phu”,
liền đuổi thầy đi và đốt am. Nếu
câu chuyện ngang đây kết thúc sẽ làm chúng ta bàng
hoàng, nhưng c̣n một đoạn kết ở sau.
Sau khi bị đuổi,
ông thầy ra đi, nhưng vài năm sau, thầy trở
lại t́m bà già. Và cũng như lần trước,
thầy nhờ bà giúp cho việc tu hành. Bà cũng hoan hỉ
cất lại am và cúng dường cơm cháo đầy
đủ cho thầy. Sau một thời gian, bà bảo cô
cháu gái thử thầy như lần trước. Đem
cháo lên xong, cô liền ôm ngang hông thầy và hỏi: “Ngay bây
giờ th́ thế nào?” Thầy trả lời: “Tôi biết,
cô biết, đừng cho bà già ấy biết!” Như
vậy là sao? Ngay đây ông thầy c̣n cao thượng
như khi xưa không? Mới nghe qua tưởng rằng
thầy có t́nh ư ǵ nên mới bảo: Tôi và cô biết thôi,
đừng cho bà già biết bà ngăn trở. Nhưng không
ngờ khi cô gái về thuật lại cho bà nghe, bà nói: “À
như vậy mới xứng đáng là người mà ta
cúng dường.”
Nghe qua câu chuyện chúng ta
thấy bà già hiểu đạo đến mức nào!
Điều mà thế gian tưởng là có t́nh ư xấu xa,
trong đạo lại là cao siêu.V́ sao? Nếu nh́n với
mắt trần tục th́ sẽ phê b́nh thầy: “Ông thầy
chắc hết muốn tu rồi nên mới thốt ra câu
nói rất phàm tục. C̣n ngày xưa ông tu rất hay, ông khô
lạnh hết rồi. Bây giờ ông giấu bà già không cho
biết, chỉ để hai người biết thôi.”
Kỳ thật câu chuyện
này đưa ra cho chúng ta một kinh nghiệm. Bà già đó trong
nhà Thiền gọi là bậc thượng thủ, chớ
không phải thường. V́ thế khi nghe thầy nói: tâm
ông khô lạnh, không c̣n một chút hơi ấm, tức là
diễn tả tâm ông đă ch́m lặng không c̣n một tí t́nh ǵ đối với mọi
người, bà già biết ông đang ch́m trong biển
độc, nên đuổi đi và đốt am để
cảnh giác ông. Tuy ông tu rất hay nhưng ông ch́m trong
chỗ khô lạnh, nhà Thiền gọi là ch́m trong biển vô
sanh. Khi bị đuổi đi ông sực thức tỉnh
biết chỗ lỗi của ḿnh, biết chỗ kẹt
của ḿnh. Ngay đó ông vươn lên và nhảy khỏi.
Rồi ông trở về để thử thách lại bà
già. Ông yêu cầu được ở và được
nuôi như trước. Đến khi người con gái ôm
ngang lưng ông lần nữa, ông nói: “Tôi biết, cô
biết, đừng cho bà ấy biết.” Tức là
hiện giác hằng giác mà không có niệm quá khứ vị
lai. Đó mới là con người chân thật, con
người thật sự tiến đến giác ngộ.
Thế nên bà già mới khen đó là người xứng
đáng để bà cúng dường. “Không cho bà biết” v́ bà
là người ngoại cuộc không có hiện hữu
hiện thời. Nếu đợi mách cho bà biết là ở một thời gian khác,
thành vị lai mất rồi. C̣n có niệm quá khứ
vị lai là làm mất cái thường giác của ḿnh.
Hằng giác hiện giác đó là chỗ mà ông hằng
sống. Nếu không biết chỗ sống ấy, với
ư phàm tục chúng ta sẽ phê b́nh ông thầy.
Sau đây là câu chuyện
của ngài Viên Ngộ ngộ đạo nơi thầy là
Ngũ tổ Pháp Diễn. Một hôm có quan Đề H́nh
đến thăm Ngũ Tổ, Ngũ Tổ hỏi:
Đề H́nh lúc c̣n trẻ có đọc thơ Tiểu
Diễm không? Có hai câu thơ rất gần trong đây:
Tần
hô Tiểu Ngọc nguyên vô sự,
Chỉ tại đàng lang
nhận đắc thanh.
Dịch:
Vừa
kêu Tiểu Ngọc nguyên không việc,
Chỉ cốt anh chàng
nhận được thanh.
Hai câu thơ này cô
đọng một câu chuyện t́nh thế gian như sau: Có
một nàng tiểu thơ có t́nh ư với một chàng thanh
niên ở gần bên nhà. Một hôm vào chiều tối, chàng
thanh niên lân la đến nhà cô thiếu nữ ư muốn t́m pḥng
của nàng mà chưa biết chỗ nào. Cô thiếu nữ
nh́n thấy anh chàng đang núp ngoài rào, cô không biết làm sao
để chàng nh́n thấy biết pḥng của cô, cô
liền kêu: “Tiểu Ngọc đem b́nh trà lại pḥng này
cho cô.” Pḥng này tức là pḥng của cô đang đứng
trước cửa. Tức th́ anh chàng ngoài kia nh́n thấy
biết pḥng đó là của cô rồi. Như vậy khi kêu
Tiểu Ngọc, thật ra không có việc ǵ quan trọng
nên nói là: nguyên không việc. Tiếng kêu đó cốt
để cho ai nghe? “Chỉ cốt anh chàng nhận
được thanh.” Tiếng kêu đó không nhắm
người thị nữ, mà nhắm vào anh chàng ngoài kia. Tuy
kêu ở đây mà ư ở ngoài kia. Khi nghe câu thơ rồi,
ngài Viên Ngộ liền ngộ. Đây là ngộ trong t́nh
tự, hay ngộ cái ǵ? Như vậy chúng ta thấy tinh
thần Thiền tông không phải tại lời nói ở
đây, mà phải thấy ở bên kia. Đó mới gọi
là thấy được lư Thiền.
Sau khi ngộ đạo, ngài Viên Ngộ tŕnh lên
thầy bài thơ, mà hai câu cuối lời lẽ rất là
phàm tục:
Thiếu
niên nhất đoạn phong lưu sự,
Chỉ hứa giai nhân
độc tự tri.
Dịch nghĩa:
Nguời
thiếu niên chỉ có một việc phong lưu,
Là mong được giai
nhân (cô gái đẹp) riêng biết ḿnh thôi.
Hai
câu thơ mới nghe rất là t́nh tứ, nhưng khi
được tŕnh lên th́ ngài Pháp Diễn nhận đó là
thấy đạo. Thế nên ngôn ngữ trong nhà Thiền
nếu hiểu theo thế tục th́ sai lầm, lệch ư.
Trở lại bài thơ
của ngài Huyền Quang, lời dịch rất rơ ràng:
Lỏng tay thêu gấm, gái
yêu kiều,
Hoa rợp, hoàng oanh lảnh
lót kêu.
Bao nỗi thương Xuân, thương
biết mấy,
Là khi không nói,
chợt dừng thêu.
(Huệ Chi)
Qua
bài thơ, chúng ta cứ nghĩ rằng Ngài tỏ vẻ
quyến luyến cô gái đang thêu, cô gái thấy dễ
thương, thương lắm! Nhưng không ngờ dùng
chữ thương lắm, là thương khi nào? Là khi không
nói, khi dừng thêu. Chính lúc ấy Ngài thương lắm.
V́ sao? Tôi lại dẫn một câu chuyện khác, rồi sẽ giải thích lư do v́ sao.
Một vị Ni đời
Lư, Ni Diệu Nhân khi sắp tịch để lại
những câu thơ nhắc nhở đồ đệ, có
hai câu như sau:
Thiền Phật bất
cầu
Uổng
khẩu vô ngôn.
Dịch :
Thiền
Phật chẳng cầu
Uổng lời không nói.
Đến
chỗ không cầu Thiền, không cầu Phật, tức là
đến chỗ viên măn tột cùng th́ không c̣n lời ǵ
để nói. Đến chỗ đó vừa mở
miệng là sai, là lạc về đối đăi rồi.
Thế nên ngài Huyền Quang nói thương, thương
lắm là thương chỗ không nói, tức là chỗ
đă viên măn tột cùng.
Thêm một Thiền sư
khác, cũng đời Lư, Thiền sư Tịnh Giới.
Khi cảm hứng về mùa thu, Ngài có làm mấy câu thơ:
Thu lai lương khí
sảng hung khâm,
Bát
đấu tài cao đối nguyệt ngâm.
Kham
tiếu thiền gia si độn khách,
Vi
hà tương ngữ dĩ truyền tâm.
Dịch:
Thu về mát mẻ thích
trong ḷng,
Tám
đấu tài cao hát thong dong.
Cửa
thiền những thẹn người si độn,
Biết
lấy câu ǵ để truyền tâm.
Mùa thu trở về, khí
trời mát mẻ, thích thú trong ḷng. Những nhà thơ
giỏi tám đấu tài cao liền có những câu thơ ca
ngợi cái đẹp của trăng thu và khí trời mát
mẻ của mùa thu. Nhưng đáng tức cười cho
ông khách si độn trong nhà thiền đă có cái ǵ tràn
đầy trong ḷng, vui tươi, thích thú, ông muốn
đem cái an lạc đó ra để diễn tả và
chỉ dạy cho người sau, song không biết làm sao v́
mở miệng là sai, mở miệng là mất rồi. Nên
nói: Vi hà tương ngữ dĩ truyền tâm: không biết
đem lời ǵ để truyền cho mọi người
cái tâm an lành tự tại của chính ḿnh. Như vậy
để nói rằng chỗ chân thật bất sanh bất
diệt luôn luôn là thanh tịnh là an lạc, chỗ ấy
không có lời để diễn tả, th́ làm sao mở
miệng, làm sao nói? Thế nên ngài Huyền Quang nói là:
thương, thương lắm, tức là chỗ không có
lời.
Tại sao lại dừng
thêu? Trong nhà thiền, khi đến chỗ chân thật
cứu kính, thường nói là: ngôn ngữ đạo
đoạn, tâm hành xứ diệt, tức là bặt đường
ngôn ngữ, không có lời để diễn tả và
dứt chỗ tâm hành tức là dứt cái tâm đang t́m
kiếm, đang đuổi theo sáu trần. Dứt chỗ
tâm hành tức là dừng thêu chớ ǵ? Dừng
được tâm đó mới là chỗ thương,
thương lắm.
Trong kinh thường
giảng nghĩa hai chữ Niết-bàn, Niết-bàn tiếng
Phạn là Nirvâna, và tiếng Pali là Nibbàna. Chữ Nib là không.
Bana là thêu dệt. Không thêu dệt tức là không tạo
nghiệp, không đan kết, không bị lôi cuốn vào ṿng
luân hồi. V́ thế Niết-bàn cũng gọi là Vô sanh,
tức là không c̣n đan dệt ṿng luân hồi nữa.
Chỗ cô thiếu nữ không nói, dừng thêu, quả là
Niết-bàn, đây là chỗ ngài Huyền Quang thích nhất,
nên Ngài diễn tả bằng cảnh Xuân tươi
đẹp.
Đến đây chúng tôi
mới nói ư nghĩa của toàn bài thơ. Đầu tiên là
cô thiếu nữ yêu kiều đang thêu gấm, cô gái
rất đẹp, gấm cô thêu cũng đẹp. Ngoài
trời hoa nở rộ, chim hoàng oanh hót lảnh lót, tất
cả cái đẹp hợp lại là tượng trưng
cho mùa Xuân. Mùa Xuân đẹp với người thế gian
trần tục, nhưng đối với người tu
th́ thế nào? Cô gái đẹp nhưng cứ thêu, thêu măi,
th́ đó là cái đẹp của luân hồi sanh tử,
chưa đáng cho chúng ta quan tâm. Cần phải có cái đẹp
khi không nói và lúc dừng thêu, đó mới thật là cái
đẹp của người tu muốn t́m muốn
được. Thế nên hai câu chót ngài Huyền Quang nói
rằng:
Bao
nỗi thương Xuân, thương biết mấy,
Là khi không nói, chợt
dừng thêu.
Không c̣n một lời, không
c̣n đan dệt, chính đó là chỗ ước mơ mong
mỏi của người tu. Thế mà có nhiều
người lại hiểu theo cái đẹp của
thế tục: Cô gái đẹp đang thêu gấm, bên ngoài
có hoa nở chim hót..., rồi cho ngài Huyền Quang là t́nh
cảm dồi dào. Thật ra Ngài là một nhà thơ lại
là một Thiền sư, nên Ngài diễn tả quá khéo léo
khiến cho người hiểu lầm. Chúng ta là con cháu
trong nhà Thiền phải hiểu cho rơ, thấy cho đúng
chỗ này, kẻo phê b́nh theo quan niệm thế gian sẽ
bị thiên hạ chê cười: Ông cha ḿnh quá hay mà con cháu
th́ quá dốt.
Vậy trọng tâm của
người tu là phải làm sao đạt đến
chỗ cứu kính Niết-bàn. Chúng ta quyết định
phải đạt được mục đích đó,
một mục đích rất đẹp, đẹp vô cùng.
Và các Thiền sư Việt Nam qua các bài thơ đă
diễn tả sự tu hành toàn là đẹp, đẹp
như mùa Xuân!
Để kết thúc
lời nhắc nhở hôm nay, chúng tôi nghĩ rằng
tất cả người tu chúng ta đều đủ
phúc duyên nên mới sớm thức tỉnh chọn
được con đường đẹp đẽ an
lành. Từ đây về sau chúng ta phải cố gắng
nỗ lực đi cho đến đích, đạt cho
đến chỗ cuối cùng. Không có lư do ǵ ḿnh đă
chọn được con đường tốt
đẹp rồi lại lo chuyện bâng quơ không
đáng để phí hết thời giờ. Đến ngày
cuối cùng nếu không đạt được mục
đích th́ rất là đáng tiếc. Cũng như
người đang đi trên con đường dẫn
đến một Kinh đô quan trọng đẹp đẽ
hằng mơ ước, Kinh đô khẳng định
ở đầu đường, người ấy
lại dừng bước bên đường, lo bắt
bướm hái hoa, rồi ngủ nghỉ dưới bóng
mát cây cao qua ngày qua tháng, quên cả mục đích ḿnh
nhắm tới. Cho đến một ngày nào ngă bệnh
không đi được nữa, khi ấy có hối
tiếc cũng đă muộn rồi. Cứu kính là phải
đến Kinh đô ḿnh đă chọn, đó chính là nơi
ḿnh an thân lập mạng. Bắt bướm hái hoa nào có
lợi ích ǵ, chỉ uổng phí th́ giờ, lại không
đạt được bản nguyện của ḿnh. Và
những bậc thức giả sẽ chê cười ḿnh
không có ư chí, không có nhận định chân chánh, con
đường đă chọn quá hay mà hành động
lại quá dở, đó là điều thật đáng trách.
Hôm nay quí vị đến
đây chúc mừng năm mới, chúng tôi không có ǵ hơn là
nhắc nhở quí vị nhớ rằng con
đường ḿnh đă chọn là con đường rất
tốt đẹp, rất an lạc. Chúng ta hăy nỗ
lực tiến trên con đường đó, làm sao một
đời này nếu chúng ta chưa đến tận
đích, ít ra chúng ta cũng đi được nửa
phần hoặc hai phần đường. Rồi qua
một đêm ngủ chúng ta lại tiếp tục đi
nữa, chớ không chần chờ để mất
hết th́ giờ, rồi phải chịu đau khổ
như bao nhiêu người không có đủ phúc duyên như
chúng ta.
Chúng tôi mong rằng sang
năm mới này, tất cả Tăng Ni cũng như toàn
thể Phật tử, đồng nắm tay nhau tiến
măi, đừng lùi đừng nghỉ, tiến măi trên con
đường rộng lớn tươi đẹp an
lành cho đến ngày đạt được mục đích mới thôi .
]
(Buổi nói
chuyện với Phật tử)
Hôm
nay là ngày Tết Nguyên Đán năm Canh Ngọ, quí Phật
tử về đây lễ Phật và chúc Tết quí
Thầy, chúng tôi đại diện cho tất cả chư
Tăng ở Thiền viện Thường Chiếu có
đôi lời nhắc nhở quí Phật tử trong ngày
đầu năm để quí vị tiến tu trên con
đường giải thoát.
Ngày Tết Nguyên Đán là
ngày quan trọng đầu năm, đi đâu hay làm
điều ǵ chúng ta đều mong gặp những
điều lành, mong được những kết quả
tốt đẹp. Chúng tôi thấy cần phải nói rơ ư
nghĩa ngày mồng một Tết đối với
tất cả người tu Phật chúng ta. Ngày Tết là
ngày đầu của mùa Xuân, mùa của an vui, hạnh phúc
và tươi đẹp. Song cái hạnh phúc tươi
đẹp đó từ đâu mà ra? Từ con người
hay từ ngoại cảnh? Chúng ta cần phải thấy
rơ điều này, để ứng dụng cho cuộc
sống hằng ngày được hết khổ và luôn an
vui. V́ thế đề tài chúng tôi nói hôm nay là “Khổ vui qua
con mắt kẻ mê người tỉnh”.
Cùng là một việc,
người mê thấy là vui, người tỉnh thấy
nó ra sao? Cùng là một việc, người mê thấy là
khổ, người tỉnh thấy là khổ hay không?
Đó là những điều mà tất cả chúng ta cần
nên biết.
Sống giữa đời
này ai cũng sợ khổ, cũng muốn cầu vui. Nghe
nói tới khổ, ai cũng ê chề chán ngán, nghe nói tới
vui , ai cũng ưa thích mến mộ. Thế th́ muốn
cái khổ đừng bao giờ đến và cái vui luôn luôn
sẵn sàng chực đón, th́ chúng ta phải làm thế nào,
sống thế nào cho được thích hợp? Đó là
điều rất thiết yếu cho cuộc sống
hằng ngày của chúng ta.
Trước hết tôi nói
cái vui của người thế tục. Thí dụ
người thế gian lỡ mang bệnh ghiền
thuốc hoặc ghiền rượu, khi đang thiếu
nếu có ai đem đến cho điếu thuốc hay ly
rượu, lúc đó họ vui hay khổ? Rất là vui, vui
lớn. Đó là trường hợp ghiền mà không có
tiền. Nếu ghiền lại có nhiều tiền th́ sao?
Rủ bạn bè vô quán, năm bảy người ăn
uống say sưa lúc đó là vui hay khổ? Lúc vô ngồi
quán bạn bè chè chén thật là vui. Nhưng nghĩ kỹ,
vui đối với ai mà khổ đối với ai?
Nếu người ghiền rượu chỉ biết
uống rượu là hạnh phúc là thú vị, khi
được chè chén th́ cho là vui. Trái lại người
không ghiền rượu khi thấy năm bảy
người vô ngồi quán nhậu say túy lúy, th́ nghĩ đó là khổ. Vậy
cái vui của người ghiền là thí dụ cho cái vui
của người mê, c̣n người tỉnh thấy
đó là khổ. Như
vậy ai thấy đúng? Người ghiền vào quán
uống rượu cho vui là đúng. Người không
ghiền thấy việc đó là tốn kém, hại sức
khoẻ, lại thêm chuyện rầy rà, nên thấy là
khổ. Người mê vui là khi đang mê, nhưng tỉnh
lại sẽ thấy khổ. Tại sao? Thí dụ như
khi vào quán, số tiền phải tốn hao cho bữa
tiệc có thể giúp sống năm ba ngày. Nhưng v́
ngồi quán xài hết tiền nên phải đi làm
để bù lại. Đó là khổ , vất vả về
thân. C̣n khổ về tâm th́ thế nào? Nếu người
có gia đ́nh vợ con mà rủ bạn bè vào quán, xài hết
tiền vợ nhà cằn nhằn, hoặc ngồi quán
đến nỗi say túy lúy, vợ con chán ngán, th́ thật là
khổ! Từ cái tưởng lầm là vui, đưa
tới cái khổ của nhiều ngày về sau. Cái vui
của người mê thật sự là cái vui trá h́nh của
đau khổ. Người tỉnh thấy khổ là
thấy đúng lẽ thật. Chúng ta là người
biết tu, là người tỉnh, nên nói tu tỉnh,
biết tu là phải tỉnh. Những cái khổ mà
người thế gian tưởng là vui, chúng ta nên tránh,
như thế mới là thật tỉnh. Nếu chúng ta
lăn vào chỗ mê đó th́ chúng ta sẽ thành kẻ mê.
Lại có người
lắm của nhiều tiền thích những thoả măn
về xác thân nên hút á phiện hoặc x́ ke ma túy, họ cho
đó là vui. Hút sách vừa tốn kém vừa hao ṃn sức
khoẻ lâu ngày thành bệnh, sống dở chết dở.
Điều họ tưởng là vui rốt cuộc lại
là khổ! Thời nay các thanh niên trẻ rủ nhau
đến những chỗ hút x́ ke ma túy. Khi mang bệnh
rồi th́ thật là khổ! Như năm trước có
một thanh niên tuổi khoảng đôi mươi, gầy
ốm chỉ c̣n da bọc xương ngồi trước
cổng chùa ăn xin. Hỏi ra mới biết v́ hút x́ ke ma
túy nên bị cha mẹ đuổi, phải đi lang thang
xin ăn, sống dở chết dở. Nếu xin
được chút ít tiền th́ đi kiếm thuốc
chích cho đỡ ghiền, nếu không tiền th́ nằm
ngoẹo bên lề đường trông thật là đau
khổ. Đó cũng v́ mê lầm lấy khổ làm vui.
Người tỉnh sáng
biết hút sách là nhân đau khổ ở ngày mai, là nhân
bị cha mẹ từ bỏ, bị mọi người
sợ ḿnh đánh cắp đồ đạc nên không
chứa chấp. Đó là gốc của khổ đau,
người thế gian không thấy khổ lại
tưởng là vui! C̣n người biết tu biết đó
là khổ th́ tránh ngay buổi ban đầu nên quả
khổ không bao giờ đến.
Ở thế gian c̣n một
cái vui nữa mà tính chất không lương thiện: Đó
là vui trên cái khổ của con người và con vật. Thí
dụ như các đứa bé mười hai mười ba
tuổi thường ra đồng bắt dế, bắt
cá thia thia đem về cho đá lộn nhau, con nào thua th́
chạy, con ăn đuổi theo... trẻ nhỏ thích thú
vỗ tay vui cười. Đó là vui trên cái khổ của
con vật. Ḿnh lợi dụng sự ngu mê của con vật
để đưa nó đến chỗ đánh đá
lẫn nhau, cho đó là vui, trong khi con vật lại
khổ.
Đến người
lớn thích chơi đá gà. Họ sắm gà ṇi, chuốt
cựa cho bén rồi đem nhử cho nó đá nhau. Khi con gà
nào bị đá té ngă máu me đầy ḿnh th́ người xem
vỗ tay vui mừng. Đó cũng là vui trong cái ác. Tâm ḿnh
tàn nhẫn trông thấy chúng sanh khổ mà ḿnh cho là vui, cái
vui đó thật là thiếu đạo đức .
Thêm cái vui chẳng hiền
lành chút nào như đi xem đánh vơ đài, tức là
người đánh với người, các tay vơ sĩ
đánh với nhau. Chúng tôi có quen vài vơ sĩ, tôi hỏi: “V́
sao ḿnh nỡ đánh người đến ngă đo ván,
như vậy có lợi ích ǵ mà ḿnh tàn nhẫn đến
thế?” Người vơ sĩ thưa: “Thưa Thầy khán
giả độc lắm, ḿnh đánh nhẹ nhẹ th́
họ la ó, họ nói ḿnh cuội. Nếu ḿnh đánh cho ngă
th́ họ vỗ tay vui cười.”
Như vậy chúng ta vui
thích trong cái khổ của con vật, như con dế con gà
đá nhau, đến cái khổ của con người
đánh đập nhau đến té ngă. Thế th́ tâm chúng ta
có hiền không? Vui trên sự đau khổ của con
người, con vật có phải là vui thật chăng? Cho
nên người Phật tử chúng ta luôn luôn đặt cái
vui của ḿnh trên cái vui của người, làm cho
người vui th́ ḿnh mới vui, nếu người
khổ th́ ḿnh không vui bao giờ. Vui trên cái khổ của
người là cái vui phi đạo đức, cái vui
của người mê không phải của người
tỉnh.
Lại thêm một cái vui
nữa rất là tàn nhẫn. Như mấy chú bé c̣n nhỏ
mười lăm mười ba tuổi đi đâu hay
xách cái giàn thun hay cái ná theo, hoặc văn minh hơn th́ mang
những cây súng nhỏ để khi thấy mấy con chim
đậu trên cành th́ nhắm bắn, nhiều khi hai con
chim, con trống con mái đang đậu rỉa lông cho nhau,
kêu ríu rít rất là dễ thương, mà ḿnh nhắm
bắn nó. Khi bắn trúng một con té nhào xuống th́
vỗ tay vui mừng. Thử hỏi khi bắn một con
vật ngă xuống, đó là hành động tốt hay
xấu? Làm một việc xấu một việc ác mà vui hay
sao? Chẳng những người bắn vui mà những
người đứng chung quanh cũng vui, cũng vỗ
tay khen nữa. Vui trong cái chết chóc, vui khi giết
được con vật, đó là quá ác phải không?
Từ việc xem
thường cái khổ của con vật lần lần
đưa đến xem thường cái khổ của con
người. Thí dụ như có người quen giựt
đồ móc túi, khi giựt được vật ǵ
về nhà họ vui lắm, kiếm ăn được,
nhưng người mất của th́ rất khổ. Đến người
ăn trộm cũng vậy, lén vào nhà lấy trộm
được của người, khi về rất là vui
mừng, không nhớ đến cái khổ của người
bị mất trộm. Lấy được càng nhiều
của th́ càng hỉ hạ vui mừng, c̣n người
mất nhiều của th́ khổ đến mức nào?
Đến việc cướp của, có khi đi
đến giết người. Cướp của càng
nhiều th́ càng mừng rỡ vui cười, trong khi
ấy có người mất mạng hoặc tan nhà nát
cửa. Vui trên đau khổ của người khác là quá
tàn ác không c̣n một chút lương tâm. Thế mà ở
thế gian có những người vui như vậy, đó
là những người mê. Nếu người tỉnh th́
không nỡ ḷng nào lấy cái khổ của người làm
cái vui cho ḿnh. Thế nên người biết tu th́ phải
tỉnh, tỉnh th́ mọi hành động gây tổn
thương đau khổ cho người cho vật, chúng
ta phải tránh.
Lại có những
người buông lung chạy theo sắc dục, cho đó là
vui. Như những thanh niên đuổi theo năm bảy cô
thiếu nữ, nếu được các cô thương
th́ họ tưởng là giỏi, là người tài hoa ai
cũng mến yêu. Nhưng không ngờ đuổi theo
sắc dục là khổ: Khổ về thân xác bệnh
hoạn, khổ về tinh thần, chuyện gia đ́nh rối
rắm mất cả hạnh phúc. Hoặc giả có
những người có gia đ́nh mà c̣n t́nh ư lôi thôi, nay
đổi chồng, mai đổi vợ. Khi thay
đổi họ tưởng là vui, nhưng không ngờ
mỗi lần đổi thay là mỗi lần đau
khổ. Có gia đ́nh là có con cái, nếu người cha hay
người mẹ đổi
thay th́ con cái bơ vơ khổ sở v́ thiếu cha
hay thiếu mẹ. Thế nên cái vui ích kỷ của
một người làm khổ lây đến nhiều
người. Đó là sự lầm lẫn của thế
gian, chuyện không vui tưởng là vui.
Rồi đến những
người có máu cờ bạc, cho việc ngồi vào ṣng
bạc là vui. Ngồi ṣng đánh đỏ đánh đen,
hoặc khi thua th́ sạch túi, hoặc khi được th́
về đăi đằng bà con. Họ cho đó là vui, cờ
bạc cho là thú vui! Nhưng người không cờ bạc,
biết rơ tai hại của cờ bạc, cho đó là
khổ. Người đời thường nói: Cờ
bạc là bác thằng bần. Ai say mê cờ bạc th́
phải tán gia bại sản tan hoang sự nghiệp, đó
là nhân của đau khổ. Như vậy cái vui của
người thế gian, kiểm lại có cái vui nào là chân
chánh, là thật đâu!
Thế nên người
biết tu, biết đạo rồi phải tránh xa tứ
đổ tường, đừng dính vào bốn tấm
vách tửu sắc tài khí đó. Ấy là cái vui thật
sự, vui v́ không dính vào cái khổ, vui v́ không làm phiền
khổ ai.
Kế đến người
biết tu vui trong những việc mà người
đời tưởng là khổ. Thí dụ như ăn
chay. Người mới tập ăn chay hai ngày hoặc
bốn ngày mỗi tháng sẽ thấy khổ v́ nuốt khó
trôi lại dễ xót ruột.
Nhưng biết ăn chay quen rồi ḿnh sẽ vui. V́ sao? V́
ḿnh không có giết mạng súc vật để bồi
bổ xác thịt của ḿnh. Ngày ḿnh ăn chay là ngày ḿnh
hănh diện không giết con vật nào, là ngày ḿnh vui, v́ không
làm đau khổ chúng sanh. V́ thế cái vui của
người ăn chay là biết tránh cái khổ cho con
vật. Nếu chúng ta không thể ăn chay trường
th́ ít ra cũng dùng chay hai ngày hoặc bốn ngày mỗi
tháng. Những ngày này bảo đảm ḿnh không có giết
con vật nào, ḿnh vẫn sống mà không làm khổ loài
vật, th́ đời sống đó mới có giá trị,
mới thật tốt lành. Đừng nghĩ ngày ăn
chay là ngày bắt buộc. Ngày ăn chay người ta bán cá
rẻ quá nên mua về bỏ vào hũ rộng lại,
để mai mốt sẽ ăn. Nếu tính như vậy
là c̣n ích kỷ chưa phải
thật ăn chay. Ngày ăn chay chúng ta phải
thấy là ngày ḿnh tránh được tội, làm
được điều tốt, không sát hại chúng sanh,
cho nên ḿnh vui, cái vui thật sự.
Thêm cái vui nữa là biết
tiết dục tức là không ham muốn nhiều. Trong sách
thiền thường dạy người tu
được định Sơ thiền gọi là Ly sanh hỉ
lạc. Tức là do ĺa ngũ dục nên sanh hỉ lạc.
Ngũ dục là tài, sắc, danh, thực, thụy, hay là
sắc thanh hương vị xúc. Khi ĺa được năm món dục này th́ ḿnh vui.
Thế nên cái vui của người biết tu
và cái vui của người
thế gian ô nhiễm khác nhau. Người thế gian đuổi
theo cái vui trong cái khổ của chúng sanh, c̣n người
biết tu vui khi không làm chúng sanh đau khổ, không làm
những điều không cao thượng. Người tu
hành vui khi thoát khỏi những điều trần tục
tầm thường, đó gọi là cái vui thoát tục. Có
những người trẻ tuổi sống vui khi xa ĺa
tứ đổ tường, khi ăn chay, khi sống thoát
tục lại bị người khác phê b́nh là ngu! Không
uống rượu, không cờ bạc bị chê là ngu, c̣n
uống rượu cờ bạc lại cho là khôn! Nhưng
sự thật ai khôn ai ngu? Ghiền rượu ghiền á phiện
x́ ke ma túy làm tốn hao tiền của, lại mang bệnh,
tự chuốc khổ chuốc họa vào ḿnh sao gọi là
khôn được. Biết tránh những cái khổ
những cái họa, không để phiền lụy cho ḿnh
cho người, đó mới thật là khôn.
Trong kinh Phật có dạy:
Sắc thanh
hương vị xúc
Tất
cả những pháp này,
Khả lạc, hỉ , khả ư,
Khi nào chúng hiện hữu,
Thế giới với chư thiên,
Xem chúng là khả lạc.
Khi chúng bị hoại diệt,
Mới thấy chúng là
khổ.
Bậc
thánh thấy là lạc,
Khi
có thân đoạn diệt,
Đây
hoàn toàn trái ngược
Điều mọi
người được thấy.
Điều
người khác gọi lạc,
Bậc
thánh gọi là khổ,
Điều người khác gọi
khổ,
Bậc
thánh biết là lạc.
Hăy xem pháp khó biết,
Kẻ không thấy, mê
mờ.
(Tiểu
Bộ Kinh trang 111 tập I)
Phật dạy:
Sắc thanh hương
vị xúc, tức là ngũ dục, tất cả những
pháp này người đời cho là vui là vừa ư. Chẳng
những người đời mà cả chư Thiên
cũng xem ngũ dục là vui. Khi ngũ dục mất
đi mới thấy là khổ.
C̣n bậc Thánh thấy vui
khi có thân này mà đoạn diệt được những
nhiễm trước theo dục lạc, đoạn
diệt được những mầm khiến phải
tái sanh. Như vậy cái vui của Thánh và cái vui của phàm
hoàn toàn trái ngược nhau. Cái vui của phàm th́ Thánh
gọi là khổ, cái vui
của Thánh th́ phàm cho là khổ. Thí dụ như
người tu khổ hạnh ăn mặc đơn
sơ, ngồi thiền dưới cội cây, những
người thích ăn chơi cho người tu như
vậy là ngu, không biết thụ hưởng, chịu
khổ làm ǵ? Trái lại những vị Thánh thấy
người say sưa rượu chè cho là không khôn chút nào!
Thế nên nếu nh́n với con mắt thánh th́ những
điều thế gian cho là vui, chúng ta biết nó là khổ.
Những điều người thế gian gọi là
khổ như ăn chay, tu hành đơn giản, bậc
Thánh lại cho là vui. Như vậy ở đời
phải khéo biết cái nào là vui thật để vui, cái nào
là vui trá h́nh của đau khổ để tránh. Như
thế mới không mê mờ chạy theo cái vui thế
tục.
Đến đây chúng tôi
nói thẳng cái vui của người tỉnh, tỉnh hoàn
toàn. Người tỉnh vui khi tâm hồn an lành thanh
tịnh. Những nơi ồn náo hoặc những cuộc
vui nhộn nhịp làm cho tâm hồn không an ổn,
người tỉnh thấy là khổ. V́ thế
người biết tu khi ngồi yên dưới cội
cây, nh́n trời mây, cỏ cây hoa lá, chính lúc đó tâm hồn
ḿnh an lành thanh tịnh, đó là vui. Niềm vui này không làm
tổn hại cho ai, không mất tiền của, cũng
không mất sức khỏe. Đó là cái vui thứ nhất.
Đến cái vui thứ hai
là khi làm lợi ích cho nhiều người. Người tu
càng làm cho nhiều người được lợi ích,
được bớt khổ th́ càng vui. Vui trong an vui
hạnh phúc của người th́ vui này mới lâu bền.
Đến cái vui thứ ba
của người tu là khi chiến thắng
được giặc phiền năo. Giặc phiền năo là
ǵ? Giả sử có ai đi ngang ḿnh nói cạnh khóe một câu,
tức thời ḿnh nghe nóng lên muốn trả lời
một câu cho xứng đáng, nặng như nhát búa...
Nếu ngay đó biết đây là phiền năo, là tội,
ḿnh dừng lại không phát ngôn, rồi từ từ
nguội xuống. Khi nguội rồi, người biết
đạo thấy vui v́ đă thắng được
cơn nóng giận của ḿnh. C̣n nếu ḿnh nói một câu
cho chát chúa, thế nào người ta cũng trả lại
một câu nặng hơn. Qua lại một lúc thành
đấu khẩu rồi đến đấu vơ, chỉ
làm khổ cho nhau, chớ có lợi ích ǵ! Thế nên
người tu chỉ vui khi thắng được
giặc phiền năo. Ḿnh sẽ được an ổn,
không làm mích ḷng ai, gặp ai ḿnh cũng vui cười.
Thắng được giặc phiền năo là gốc vui
chân thật, thua nó là gốc đau khổ. Nhiều
người thế gian thấy rất đáng thương,
khi nghe ai nói lời ǵ trái ư liền trả lại ngay cho
xứng đáng và mạnh hơn mới hài ḷng. Ngờ
đâu ḿnh làm cho người giận là gieo nhân không tốt.
Tưởng như thắng là được yên, nhưng
ḿnh đă gieo hờn vào ḷng người th́ họa ắt
sẽ đến.
Cái vui thứ tư của
người tu, cao siêu hơn, là cái vui bỏ bóng nhận
đầu. Trong kinh Lăng Nghiêm đức Phật dạy
ngài A-nan: Có một người tên Diễn-nhă-đạt-đa,
một sáng nọ cầm gương soi mặt, nh́n
thấy mặt mũi trong gương rơ ràng. Kế anh úp
gương lại, mặt mũi nh́n thấy khi năy mất
tiêu, anh hoảng hốt nói: Tôi mất đầu rồi,
tôi mất đầu rồi. Anh phát điên bỏ chạy
khắp xóm làng. Đó là cái điên của người
nhận bóng quên đầu. Sự thật đầu có
mất bao giờ! Chỉ mất bóng thôi mà tưởng là
mất đầu nên anh hoảng hốt điên cuồng.
V́ thế người biết tu là biết bỏ bóng
nhớ đầu. Đầu mặt trong gương là
bóng, mất nó ḿnh rờ lại thấy đầu mặt
vẫn c̣n nguyên. Bỏ bóng nhớ đầu mới là
niềm vui chân thật của người biết trở
về cái thật không đuổi theo bóng.
Kế
đến là cái vui của người cùng tử lang thang
nghèo khổ gặp lại cha. Đây là câu chuyện trong
kinh Pháp Hoa: Có anh chàng khi c̣n bé đă bỏ cha ra đi. Anh
lang thang nghèo khổ, ăn xin đầu đường
xóù chợ từ xứ này qua xứ khác. Một hôm anh
thức tỉnh nhớ lại cha t́m về quê hương.
Cha anh lúc bấy giờ là một trưởng giả giàu có.
Anh gặp được cha, cha nhận anh là con rồi
trao sự nghiệp lại cho anh. Đó là vui tuyệt! Qua
câu chuyện “Người cùng tử gặp cha”,
người tu chúng ta hiểu như thế nào? Từ
xưa đến giờ chúng ta sẵn có ông Phật ở
trong nhà mà chúng ta quên nên cứ chạy theo cái bóng, tức là
những vọng tưởng của ḿnh, rồi tạo
nghiệp. Nghiệp dẫn chúng ta đi trong luân hồi sanh
tử từ đời này đến kiếp khác, lang thang
khổ đau không cùng không tận. Nay thức tỉnh chúng
ta biết đó là bóng đă dẫn ḿnh đi trong đau
khổ, chúng ta phải trở về ông Phật của
ḿnh. Trở về gặp Phật của ḿnh gọi là cùng
tử gặp cha. Lúc ấy ḿnh giàu có sung sướng,
đó gọi là cái vui của cùng tử gặp cha.
Cái vui kế là: cái vui
của kẻ lạc loài trở về cố hương.
Có một số người đang ở quê hương
rất an lành, nhưng bất thần nghe theo sự xúi
giục của ai đó (ma vương) họ ra đi lang
thang từ xứ này qua xứ khác nhiều tháng nhiều
năm. Không có công ăn việc làm, họ phải chịu
đói rét khổ sở. Một ngày kia chợt thức
tỉnh họ muốn trở vềø cố hương,
lại rủ nhau cùng về. Về đến cố
hương tất cả đều gặp lại thân
bằng quyến thuộc, sống ở quê hương
rất an lành, sung túc, các khổ đau lạc loài, thiếu
thốn lang thang không c̣n nữa. Đó là cái vui của
người trở về cố hương. Nơi quê
hương đă sẵn mọi tiện nghi tốt
đẹp, đó là quê hương pháp thân, quê hương
này không bao giờ có khổ đau, không bao giờ có sanh
tử. V́ quên quê hương nên chúng ta bị vô minh phiền
năo xúi giục, dẫn đi lang thang trong ṿng sanh tử.
Giờ đây thức tỉnh trở về quê
hương, bỏ đi nếp sống lang thang.
Ngược ḍng trở về với Pháp thân, tức là
trở về cố hương, trở về quê
hương muôn đời th́ hết những khổ
đau vất vả của nhiều năm tháng
trước. Đó mới chính
là cái vui chân thật.
Như
vậy chúng ta tu là được vui hay bị khổ? Tu là
vui. V́ thế chúng ta phải nôn nả gắng sức
trở về chỗ vui đó, chẳng lẽ chúng ta
sống măi trong buồn khổ sao? Dù cho được
phước đức sống trong gia đ́nh đầy
đủ ngũ dục tài sắc danh lợi, nhưng
cũng không thoát khỏi bệnh hoạn già chết. Dù chúng
ta có hưởng cái vui của sự giàu sang sung túc
đến đâu, dài lắm cũng chỉ mấy
mươi năm thôi, rồi ngày qua ngày cũng vô
thường bại hoại. Chỉ khi nào chúng ta thoát
khỏi khổ sanh tử, đó mới là cái vui chân
thật lâu dài.
Để
kết luận chúng ta thấy người thế gian không
sáng suốt nên lấy cái khổ của người làm
niềm vui cho ḿnh. Là người sáng suốt, chúng ta không
bao giờ chấp nhận cái vui trên đau khổ của
người khác. Người thế gian không biết nên
lấy cái vui tạm bợ cho là chân thật. Nhưng khi
biết rồi th́ cái vui tạm bợ không đáng
để chúng ta mê say, mà chúng ta phải trở về t́m
cái vui chân thật. Và cái vui này chỉ có nơi người
biết tỉnh giác.
Thế
nên chúng ta phát tâm tu là phát nguyện trở về nguồn an
vui trong đời này và nhiều đời sau nữa.
Muốn được như vậy chúng ta phải cố
gắng tu, nghĩa là luôn t́m cái vui trong thanh tịnh, trong
sự tỉnh giác, không đeo đuổi giành giật cái
vui thế tục. Đạo Phật đă đưa chúng
ta đến chỗ an vui, nên chúng ta nguyện tiến tu
suốt đời, càng lớn tuổi càng phải tiến
nhanh hơn, v́ khổ sanh tử đă tới gần kề
rồi. Nếu không t́m được cái vui chân thật th́
khi vô thường đến làm sao chúng ta trở tay cho
kịp!
Đạo
Phật là đạo diệt khổ và đem lại
sự an vui cho tất cả mọi người, là chỗ
nương tựa để chúng ta trở về cố
hương, gặp lại ông cha của ḿnh, tức là
trở về với cái thật, cái vui thường
hằng vĩnh cửu.
Vậy
bước sang năm mới chúng tôi chúc tất cả quí
Phật tử một năm đầy an vui của
người tỉnh giác.
]
NHỮNG
CHƯỚNG NẠN CỦA ĐỨC PHẬT
TẤT NIÊN CANH NGỌ (1991)
Trước khi vào
đề tài, tôi nêu lên vài câu chuyện nhỏ để quí
vị thấy rơ sự việc chúng tôi nói hôm nay. Có
nhiều người nói năm nay tuổi tôi xấu nên xảy
ra nhiều chuyện không tốt. Từ lâu tôi nghĩ
rằng tuổi không quan trọng mà chính hành động và
tư tưởng mới quan trọng nên tôi không để
ư đến tuổi nhưng nhiều người lại
cho đó là đúng sự thật. Nếu đúng th́ chắc
mỗi năm chúng ta phải tốn tiền coi lịch
đàng hoàng rồi cúng sao giải hạn. Đó là
điều chúng tôi không chấp nhận.
Cuộc đời mỗi
người chúng ta đều có khi thăng khi trầm, có
lúc được hanh thông, có khi gặp những
điều bất hạnh, nhưng đối với tôi,
tôi không thấy có ǵ gọi là bất hạnh. Ở
đời không thể nào
chúng ta có một cuộc sống b́nh yên măi mà phải
có khi lên, khi xuống, như vậy cuộc đời
mới có giá trị. Như khi đi con đường
Đà Lạt, chúng ta không buồn ngủ là nhờ đi qua
đèo, chúng ta thường tỉnh để nh́n cảnh
đẹp. Cảnh đẹp là do có xuống dốc lên
đèo, đời chúng ta có hay đẹp cũng là nhờ
khi thế này khi thế khác, nếu cứ b́nh b́nh hoài th́ giống
như đi đường bằng phẳng miền Tây,
xe chạy một lúc là buồn ngủ. Như vậy không
có ǵ gọi là bất hạnh hay xui rủi, chẳng qua
đó là nhân duyên trong cuộc đời, trong tương
đối phải như vậy. Lại chính những khi
thăng trầm chúng ta càng thấy rơ ḿnh hơn. Khi thăng
chúng ta không tự hào, không ngạo mạn, khi trầm chúng
ta không buồn, không khổ, đó là có tiến trên
đường tu. Trái lại khi thăng th́ hănh diện,
khi trầm th́ than thở th́ thật là ḿnh chưa ra ǵ!
Thế nên những đổi thay là những cơ hội
để người tu thấy rơ ḿnh hơn, biết ḿnh
đă tiến được bước nào chưa,
nếu tiến được, đó là điều đáng
mừng, nếu không, đó là điều đáng xấu
hổ trên đường tu.
Hôm nay là ngày cuối năm,
quí vị thấy năm xui của tôi đă chấm dứt
chưa? Thật ra ai nói tôi xui rủi cũng
được, nhưng riêng tôi, tôi thấy mỗi năm
đều có những cái hay,
cái dở theo nhau. Thí dụ như năm nay tôi muốn
đi ra Bắc để t́m thêm tư liệu th́ lại có phương
tiện, đi về được b́nh an, người
đời cho đó là may. Ở đời không có một
chiều, cần yếu là chúng ta không bi quan khi gặp
những bất hạnh, cũng như không lạc quan khi
thấy những việc tốt đến với ḿnh.
Chúng ta phải luôn thấy được ḿnh trước
hoàn cảnh thuận hay nghịch, đó là chúng ta biết
tu. Như vậy tôi đă kiểm điểm sơ
lược chuyện cũ của riêng cá nhân tôi trong năm
nay.
Đến đây tôi
đề cập đến chuyện xa hơn, đó là
chuyện của đức Phật, tất cả Tăng
Ni và Phật tử nghe, rồi lấy đó làm gương
tu học. Nếu chúng ta chỉ một chiều nh́n
đức Phật là một đấng đại hùng,
đại lực, đại từ, đại bi, toàn
năng, toàn trí..., đời của Ngài hoàn toàn không có
chuyện ǵ đáng buồn đáng vui cả, đó là chúng
ta lư tưởng hoá đời sống đức Phật,
chớ sự thật không phải như thế. Chúng ta phải
nh́n đức Phật qua những hoàn cảnh thuận
nghịch trong đời sống thực tế để
xem Ngài xử sự như thế nào, rồi từ đó
chúng ta thu nhặt những kinh nghiệm, hun đúc ư chí, và
trở thành những con người cứng cỏi
thấy rơ được lẽ thật; nếu không,
nhiều khi chúng ta hay than thân trách phận, nghĩ rằng
đức Phật ra đời giáo hóa dễ quá, c̣n chúng ta
sao gặp đủ mọi điều khó khăn...
Vậy đề tài chúng tôi nói hôm nay là “Những
chướng nạn của đức Phật”.
Đức Phật c̣n
chướng nạn sao? Thế gian thường nói:
‘‘Phật c̣n vương tám nạn, huống là người
sao khỏi tai ba.” Nghĩa là Phật bị tám nạn, c̣n
người chỉ ba tai ách thôi. Phật c̣n nạn
nhiều hơn chúng ta nữa! Hiểu như vậy chúng ta
mới có cái nh́n rơ ràng.
Trước tiên tôi nói
những chướng nạn của đức Phật qua
cái nh́n của phàm phu và Nhị thừa để quí vị
đừng có những lầm lẫn khác. Từ
trước đến nay đa số người học
Phật nghĩ rằng đức Phật là một
đấng tṛn đầy tất cả công đức, nên
trên đường hoằng hoá Ngài không vấp phải
chướng ngại. Vậy hôm nay chúng ta đi sâu vào
vấn đề để t́m xem đức Phật
gặp những chướng nạn nào trên
đường hoằng hóa của Ngài. Tôi chia ra:
trước là chướng nạn bên ngoài, kế là
chướng nạn bên trong.
Nói đến chướng
nạn bên ngoài, tôi trích một bài trong kinh Tứ Thập
Nhị Chương. Trên đường giáo hóa, một hôm
vào buổi sáng, đức Phật một ḿnh mang bát đi
khất thực trong thôn. Tại thôn ấy có một
người Bà-la-môn, v́ đệ tử của ông đă
theo Phật qui y quá đông, nên khi thấy Phâït ôm bát đi
khất thực, ông liền đi theo sau Phật và gọi
tên Phật chửi măi. Đức Phật vẫn im
lặng đi, Phật im lặng chừng nào ông càng tức
chừng nấy. Đến đầu đường ông
chạy đến trước chận Phật lại, ông
hỏi: Sa-môn Cù-đàm, Ngài có điếc không? Đức
Phật trả lời: Không.
-
Ông không điếc tại sao ông không nghe tôi chửi?
- Có nghe.
- Nghe sao ông không trả
lời?
Đức Phật dùng thí
dụ nói: Giả như nhà ông có lễ lớn, sau buổi
lễ thân nhân ra về, ông đem quà tặng, nếu
những người ấy không nhận th́ quà đó
thuộc về ai?
Người Bà-la-môn đáp:
Tôi tặng, người ta không nhận th́ về tôi chớ
về ai.
Phật bảo: Cũng
thế, ông chửi mà ta không nhận th́ lời chửi
đó đâu có dính dáng ǵ đến ta.
Người Bà-la-môn đành
im lặng trở về.
Đó là trường
hợp thứ nhất, đức Phật bị
người ta chửi mà vẫn điềm đạm. Khi
người ấy tức quá nhịn không nổi, hỏi
Ngài có điếc không mà làm thinh th́ Ngài đáp là Ngài nghe.
Nhưng tại sao không căi? V́ Ngài nghe mà không nhận, cũng
như người đem quà tặng chúng ta, nếu chúng ta không
nhận th́ của đó đâu có dính ǵ với chúng ta và quà
đó vẫn c̣n nguyên là của họ. Như vậy quí
vị có thể lấy bài kinh này làm bài kinh nhật tụng
để tu học. Nếu có người chửi, quí
vị có lặng lẽ đi và khi họ hỏi tại sao
không trả lời th́ quí vị nói thế nào? Chúng tôi
thấy đây là một bài kinh mà người tu chúng ta không
bao giờ quên được.
Một lần nữa,
cũng trên đường giáo hóa, hôm ấy đức
Phật đi khất thực một ḿnh, gặp một
người Bà-la-môn khác cũng theo sau chửi Phật,
chửi măi mà đức Phật vẫn lặng lẽ
đi, không đối đáp ǵ cả. Ông tức quá,
đến đầu đường ông chận Phật,
đức Phật dừng lại, trải tọa cụ
ngồi. Ông hỏi: Sa-môn Cù-đàm
thua tôi chưa?
Đức Phật trả
lời:
Kẻ hơn
th́ thêm oán,
Người
thua ngủ chẳng yên,
Hơn
thua hai đều xả,
Ấy
được an ổn ngủ.
Như vậy quí vị
thấy, nếu hỏi chúng ta thua chưa th́ chúng ta nói
thế nào? Có lẽ sẽ nói: Tôi nhịn đó chớ không
phải tôi thua đâu. Ráng nhịn chớ trong ḷng c̣n
tức lắm nghĩa là có cơ hội sẽ trả thù.
Trái lại đức Phật b́nh tĩnh trả lời:
Kẻ hơn th́ thêm oán, nghĩa là nếu ḿnh hơn th́
kẻ bị thua oán ḿnh.
Người thua ngủ
chẳng yên: nếu nghĩ rằng ḿnh thua th́ tức,
ngủ không được. Quí vị nhớ lại khi nào
căi với ai mà chịu lép một, hai câu, khi về nhà
tối đó ngủ ngon không? Cứ nhớ phải đáp
câu nào cho hay hơn, nặng hơn, nghĩ hết câu này
đến câu khác, so sánh, suy tính... nên rồi mất
ngủ.
Hơn thua hai đều
xả: bỏ cả hơn, cả thua, cả hai
đều bỏ hết.
Ấy được an
ổn ngủ, tức là an ổn ngủ một giấc
thật ngon.
Như vậy sở dĩ
chúng ta mất ăn mất ngủ là tại điều ǵ?
Tại những hơn thua, được mất! Khi
được cũng ngủ không yên, mất cũng
ngủ không xong. Hơn người, khi trở về
vẫn c̣n hằn học nhớ ḿnh nói câu đó hay, hành
động đó giỏi, c̣n nếu thấy thua th́ bực
tức ngủ không được. Trái lại đức
Phật gác ra ngoài việc hơn thua nên Ngài an ổn tự
tại, không buồn, không bực. Bài kinh trên trích trong kinh
A-hàm.
Như vậy quí vị
thấy đă hai lần đức Phật bị Bà-la-môn
chửi, kêu tên chửi chớ không phải nói xa nói gần
như chúng ta hiện nay, thế mà đức Phật
vẫn thản nhiên và c̣n nói lên những lời đạo
lư cho người ta thức tỉnh.
Trên đây là cá nhân chửi,
tiếp đến là tập thể chửi. Sau khi
đức Phật thành đạo chưa lâu, có lẽ
khoảng bốn năm năm, khi ấy Ngài c̣n trẻ,
một hôm Ngài đi giáo hóa đến một vùng có một
người Bà-la-môn giàu có lại giỏi về tướng
số và sanh được một cô con gái thật
đẹp. Vừa gặp Phật ông liền xem
tướng, thấy gần đủ ba mươi hai
tướng tốt của Phật ông trầm trồ khen,
rồi vội vă trở về báo tin cho vợ biết là có
một người tướng thật tốt, nếu
ở thế gian sẽ làm vua Chuyển luân. Vợ chồng
ông từ lâu muốn t́m một người rể xứng
đáng, nay gặp người này, ông thật vừa ḷng.
Nghe xong bà bảo ông dẫn bà đến gặp đức
Phật. Khi ấy đức Phật khất thực xong,
Ngài ngồi dưới cội cây thọ trai. Hai ông bà
đến gặp lúc Phật đang thọ trai, ông chỉ
cho bà thấy những tướng tốt của Ngài,
rồi hai ông bà cùng đồng ư nói thế này: “Ngài
Cù-đàm, chúng tôi có một đứa con gái đẹp
lắm, xin gả cho Ngài.” Nghe đến đó đức
Phật liền đáp: “Ông nói con gái của ông đẹp,
nhưng dưới mắt người tu chúng tôi, tất
cả người dù đẹp dù xấu cũng chỉ là
một đăy da chứa toàn đồ hôi hám đâu có giá
trị ǵ.” Khi đó có một đứa thể nữ
đi theo, nghe được lời này, nó về thuật
lại cho cô tiểu thơ nghe, cô rất tức giận,
từ trước đến nay chưa có ai dám khinh chê cô,
nay Sa-môn Cù-đàm dám chê cô là một đăy da hôi thúi, cô
thề sẽ trả thù. Sau đó vua nước Kosambi
đi hỏi cô làm vợ, và cô được làm thứ
hậu. Một hôm đức Phật đi giáo hóa đúng
vào xứ cô ở. Nghe tin Ngài đến, đó là cơ
hội hiếm có để cô trả thù, cô thuê những
người hung bạo trong vùng đón Phật, dặn khi
thấy đức Phật tới th́ cả đoàn nam
nữ vây quanh chửi đến khi nào đức Phật
đi chỗ khác mới thôi.
Lần này đức
Phật đi có ngài A-nan đi theo. Hai thầy tṛ vừa vào
xứ đó, bỗng dưng một nhóm người cả
nam lẫn nữ xông ra chửi, đua nhau chửi.
Đức Phật vẫn thản nhiên như không có
việc ǵ, nhưng ngài A-nan th́ chịu không nổi nên
mới thưa: Bạch Thế Tôn, thôi chúng ta đi chỗ
khác.
Đức Phật hỏi:
Đi đâu A-nan?
- Bạch Thế Tôn, chúng ta
qua nước Đề-xá.
-Nếu đến
nước đó mà dân chúng cũng cư xử giống
như dân ở đây th́ ông nghĩ sao?
- Bạch Thế Tôn, chúng ta
qua thành Hoa Thị.
- Nếu đến
đấy mà dân chúng cũng cư xử như thế này
th́ ông nghĩ sao?
- Bạch Thế Tôn, chúng ta
đến nơi nào mà người ta không bạc đăi
chúng ta như ở đây, như là về thành Tỳ-xá-ly
hay là thành Vương Xá chẳng hạn.
Đức Phật liền
đặt câu hỏi: Tại sao dân chúng thành Vương Xá,
thành Tỳ-xá-ly lại ưu đăi chúng ta?
Ngài A-nan thưa: Bạch
Thế Tôn, v́ dân chúng ở đó đă từng nghe Thế
Tôn dạy, họ biết rơ chánh pháp và họ có trí tuệ
phân biệt được hành động nào là thiện,
hành động nào là tội lỗi, do đó họ rất
chiêm ngưỡng đức Thế Tôn, thôi chúng ta về
đó đi.
Đức Phật liền
hỏi: A-nan, giả sử có người thầy thuốc
giỏi bậc nhất có thể đăng bảng
trước cổng rằng: ở đây chỉ trị
bệnh cho những người bệnh nhẹ và không
bệnh, c̣n ai bệnh nặng xin mời đi nơi khác,
có như vậy không A-nan?
- Bạch Thế Tôn, không.
-
Tại sao?
-
V́ thầy thuốc hay cần trị cho những
người bệnh nặng, nếu thầy thuốc có
lương tâm mà bệnh nặng không trị giùm, chỉ
trị bệnh nhẹ và không bệnh th́ thật là vô lư.
-
Này A-nan v́ sao dân chúng ở xứ này lại đối
đăi tệ bạc với chúng ta như vậy?
- Bạch
Thế Tôn, v́ ở đây họ chưa từng nghe
Phật thuyết pháp, họ không biết hành động
nào là thiện, hành động nào là ác, nên họ mới
xử tệ với chúng ta.
- A-nan, Như Lai ra đời v́ làm lợi ích cho
mọi người, v́ cứu khổ chúng sanh, cũng
như người thầy thuốc hay là cốt để
trị những người đang đau khổ v́
bệnh trầm trọng. Dân chúng ở đây như
những người bệnh nặng, Như Lai cần
phải có mặt để giáo hoá họ, c̣n dân chúng ở
thành Tỳ-xá-ly hay Vương Xá giống như những
người bệnh nhẹ không cần đến Thế
Tôn, chỉ những đệ tử của Thế Tôn
cũng đủ để giáo hóa họ rồi; nơi này
nếu Thế Tôn không đích thân đến th́ ai dám
đến đây giáo hóa?
Nghe như thế ngài A-nan
liền thưa: Bạch Thế Tôn, ở đây đâu có ai
cần nghe Thế Tôn giảng, họ xử sự quá
tệ bạc th́ làm sao giáo hóa?
Đức Phật giải
thích thêm: Ví như người bệnh nặng, thân thể
và tâm hồn họ bị giày xéo đau khổ nên tư cách
và ngôn ngữ họ không b́nh thường, v́ thế họ
có những lời nói xúc chạm đến thầy
thuốc, nếu người thầy thuốc thương
bệnh nhân như con th́ phải bỏ qua những
điều đó để trị lành bệnh cho họ.
Cũng như thế, dân chúng đây là những
người bệnh nặng nên họ có những thái
độ bất thường, chúng ta nên giáo hóa họ
chớ không nên bỏ họ.
Nghe Phật nói đến đó những
người côn đồ liền thức tỉnh, họ
đồng thưa: Bạch Thế Tôn, chúng tôi xin lỗi
Ngài, chúng tôi thật là người bệnh nặng, mong Ngài
ở lại đây giáo hóa chúng tôi.
Đức Phật và ngài
A-nan ở lại, chỉ hơn một tuần lễ
họ đă qui y rất đông, không kém thành Tỳ-xá-ly hay
Vương Xá bao nhiêu.
Như vậy quí vị
thấy đức Phật có bị chửi không? Một
hay nhiều người chửi? Khi bị chửi
đức Phật có buồn giận không? Đó là những
hành động chúng ta phải nhớ măi, phải lấy
làm kim chỉ nam trên đường tu, chớ nếu
vừa nghe một lời chửi mắng đă nổi cáu
lên, bỏ đi th́ chắc trên đường tu, trên
đường giáo hóa chúng ta không làm được ǵ
cả. Đó là ba trường hợp Phật bị
chửi. Hai trường hợp trước là chửi
đơn lẻ, c̣n trường hợp thứ ba là
cả tập thể chửi.
Tiếp đến là
những chuyện vu cáo. Khi đức Phật ở
tại Tinh xá thuyết pháp, một hôm giữa hội chúng
đông đảo Tăng Ni và cư sĩ, bỗng một
cô gái ḍng Bà-la-môn tên Chiên-giá-ma-nạp, có lẽ do những
người Bà-la-môn ghét đức Phật xúi giục, cô
độn bụng to lên rồi giữa đám đông cô
đứng lên vỗ bụng nói: “Tôi đến đây nghe
pháp, ngài Cù-đàm phạm tội tư thông với tôi nên
hiện tôi đang mang thai.” Tiếp đó cô vỗ bụng
và chửi mắng ầm ĩ. Quí vị nghĩ việc này
thật quá sức tưởng tượng phải không? Vu
cáo giữa đại chúng Tăng Ni Phật tử th́ c̣n mặt
mũi nào ngó ai. Thế mà đức Phật vẫn b́nh
tĩnh, không nói một lời. Cô gái vỗ bụng trong giây
lát chợt dây đứt, những ǵ cô độn trong
bụng rơi xuống hết, ngay đó mọi
người đều thấy rơ lời vu cáo của cô.
Việc này thật quá sức tưởng tượng
của chúng ta, trên đường hoằng pháp hiện nay,
chưa có ai gặp trường hợp như vậy.
Song cũng chưa
đặc biệt bằng trường hợp sau đây.
Khi đức Phật
về Tinh xá Trúc Lâm, tất cả vua quan và dân chúng
đều tới để nghe Ngài giảng dạy
mỗi ngày, do đó có một số người Bà-la-môn
theo qui y với đức Phật, v́ thế có một
người Bà-la-môn tên là Tôn-đà-lợi rất tức
giận, muốn hại Phật. Ông cho con gái ông, cô gái
cũng đẹp, đi nghe giảng, được vài
lần rồi ông giết con gái, giữa đêm lén đem
vào đất tinh xá Trúc Lâm, đào lỗ chôn. Đến
sáng ông đi thưa quan là con gái ông đi nghe giảng pháp
ở tinh xá Trúc Lâm, nay bỗng dưng mất tích không
thấy về. Quan quân mới đi t́m, ông cũng đi
theo. Ông dẫn họ đi khắp tinh xá, đến
một chỗ có dấu đất mới lấp ông
bảo họ đào lên th́ thấy thây của con ông bị
giết chôn tại đó. Ông liền lớn tiếng
buộc đức Phật phạm hai tội: dâm và sát,
tức là tư thông với con gái ông rồi giết
để phi tang.
Quí vị thấy câu
chuyện không phải là thường, giết con rồi
lại tố cáo Phật phạm tội. Trong trường
hợp này không có ǵ minh chứng được nên
đức Phật chỉ lặng thinh. Tinh xá Trúc Lâm
thuộc nước Ma-kiệt-đà, vua nước
Ma-kiệt-đà rất mến Phật nên ông cho
người điều tra thật kỹ, kết quả
mới biết chính ông Bà-la-môn giết con ông và đem chôn
trong tinh xá, từ đó mới minh oan cho đức
Phật. Vậy quí vị thấy Ngài bị tai nạn
nhiều hay ít? Những chuyện xảy ra thật quá
sức tưởng tượng của chúng ta, thế mà
Ngài vẫn an nhiên, không tranh căi, không sợ sệt. Trên
đây chỉ là những chướng nạn bên ngoài.
Tôi kể tiếp những
chướng nạn bên trong, tức là nội bộ. Tất
cả quí vị đều biết
Đề-bà-đạt-đa là em chú bác của Phật,
Đề-bà-đạt-đa là con nhà chú, Phật là con nhà
bác. Đề-bà-đạt-đa xuất gia và tu chứng
được ngũ thông chớ không phải là
thường. Khi chứng được ngũ thông
rồi, ông mới dùng thần thông cảm hóa Thái tử A-xà-thế.
Ông có mộng làm giáo chủ nhưng c̣n đức Phật
là ông không làm giáo chủ được nên muốn hại
đức Phật. Ông mới xui Thái tử A-xà-thế
cướp ngôi vua cha rồi thả voi say giết Phật,
nhưng không được. Cuối cùng một hôm
đức Phật đi ngang chân núi, ông ở trên núi xô
đá lăn xuống, đức Phật bị dập
một ngón chân nên ông phạm tội “xúc Phật thân
huyết”. Lại thêm những chuyện như ông rủ
chư Tăng bỏ đoàn đi theo ông v.v... nghĩa là ông
tạo sự rối loạn, trong chúng lúc đó không c̣n yên
ổn được, sau cùng phải nhờ hai ngài
Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên đi giải thích
cho chúng, họ mới trở về với Phật. Quí
vị thấy thật là đáng buồn, một
người vừa là em chú bác, đó là chỗ t́nh thân,
vừa là tu hành chứng được ngũ thông, không
phải tu “lơ mơ” như chúng ta hiện nay, vậy mà
muốn hại Phật và phá ḥa hợp Tăng, làm điên
đảo cả chúng.
Đến người
thứ hai là Tỳ-kheo Thiện Tinh, con Phật (con của
một vị thứ phi, không phải con bà Da-du-đà-la)
cũng theo Phật xuất gia. Vị này rất thông minh,
thuộc làu mười hai bộ Kinh, tu chứng
được Tứ thiền, nhưng ông lại chê
đức Phật, chê giáo lư của Phật không hay, không
đến cứu kính, ông bác cả nhân quả, cả
Niết-bàn. Nhiều lần đức Phật khuyên, ông
vẫn đinh ninh như vậy. Quí vị thấy đáng
buồn không? Con trong nhà đồng thời tu khá, thuộc
kinh cũng nhiều, lại làm chướng ngại
Phật.
Đến người
thứ ba là Tỳ-kheo Thiện Túc, theo Phật xuất gia
một thời gian, một hôm ông đến Phạm Chí
Dà-bà nói lỗi đức Phật. Ông nói: Đại sư,
tôi không theo ngài Cù-đàm nữa, v́ Ngài không nói cho tôi nghe
những điều tôi cần nghe và Ngài cũng không
hiện thần thông cho tôi thấy, v́ thế tôi xin theo
Đại sư. Ông lại kể tám lỗi của
Phật cho ngoại đạo nghe. Nghe xong, đến
một hôm gặp đức Phật, ông ngoại
đạo mới thuật lại cho đức Phật.
Như vậy quí vị thấy đệ tử Phật
yêu cầu Phật phải hiện thần thông cho thấy,
Phật không hiện thần thông liền chê Phật và
bỏ đi theo ngoại đạo. Câu chuyện này
xuất xứ từ kinh Trường A-hàm.
Thêm một người
nữa là Tỳ-kheo Man Đồng Tử, ông xuất gia
theo Phật một thời gian rồi yêu cầu Phật
phải khẳng định thế giới này là
thường hay vô thường, sau khi nhập Niết-bàn
rồi c̣n hay hết v.v... Phật phải giải thích
điều đó rơ ràng cho ông nghe, ông mới tu theo Phật,
nếu Phật không giải thích ông sẽ hoàn tục.
Đức Phật mới quở ông là ngu si và đức
Phật dùng thí dụ mũi tên bắn vào người (kinh
Tiễn Dụ), đó là trường hợp thứ tư.
Đến trường
hợp thứ năm là hai nhóm Tỳ-kheo ở nước
Câu-xá-di tranh đấu nhau, khi đó Phật dùng bài kệ
khuyên:
Nếu dùng tranh
dứt tranh,
Rốt cùng không thấy
dứt,
Chỉ
nhẫn hay dứt tranh,
Pháp
ấy đáng tôn quí.
Phật dạy: Nếu dùng
tranh đấu để dứt tranh đấu, rốt
cuộc không thể dứt được, chỉ nhẫn
nhục mới hay dứt được tranh đấu,
pháp đó là pháp tôn quí nhất. Quí vị nghĩ các thầy
Tỳ-kheo sẽ nói thế nào? Các Tỳ-kheo thưa:
“Thế Tôn là Pháp chủ, nay xin dừng, kia nói con, con đâu
thể không nói lại”, nghĩa là Ngài đừng có can
thiệp, đừng có khuyên nữa, họ chửi con th́
con chửi lại. Quí vị thấy Phật đầy
đủ phước đức như vậy mà
đệ tử của Ngài có nghe Ngài trăm phần
trăm không hay là họ căi nhau, Ngài khuyên cũng không
được? Thế nên đức Phật bỏ đi
vô rừng. Đó là tôi kể chưa hết, tôi chỉ trích
một số câu chuyện cho quí vị nghe. Đến
kết luận đức Phật nói bốn câu kệ cho
biết trong đời của Ngài, Ngài đă chịu
những ǵ:
Ta
như voi giữa trận,
Hứng
chịu cung tên rơi,
Chịu
mọi sự phỉ báng,
Ác
giới rất nhiều người.
(Pháp cú 320)
Ngài nói Ngài giống như
con voi to ở giữa trận, bên này bên kia tên bắn
rớt trúng, rồi mâu giáo đâm trúng, chịu đựng
đủ tất cả sự phỉ báng, tại sao? V́
người thế gian ác giới nhiều quá! Bốn câu
kệ nói lên cái thảm của Ngài là chịu đựng
đủ mọi chuyện.
Như vậy quí vị
thấy cuộc đời của Ngài không nhàn hạ
như chúng ta tưởng, Ngài cũng chịu đắng
cay trăm bề. Đó là tôi dẫn cái nh́n đức
Phật với con mắt phàm phu và Nhị thừa. Con
mắt phàm phu và Nhị thừa thấy Phật cũng
khổ và thấy xót xa cho Phật.
Đến
cái nh́n với con mắt Phật thừa (Phật thừa
chớ không nói Đại thừa) th́ lại khác hẳn.
Những cái gọi là tai nạn đó có đúng là tai
nạn không? Đầu tiên
tôi dẫn kinh Pháp Hoa, trong phẩm
Đề-bà-đạt-đa đức Phật kể
rằng: Đề-bà-đạt-đa không những một
đời này mà nhiều đời trước Phật
ở nơi nào hành hạnh Bồ-tát ông cũng đều
tới phá Phật. Phật bảo: Nhờ Đề-bà-đạt-đa
mà ta chóng thành Phật, rồi Ngài thọ kư
Đề-bà-đạt-đa sau sẽ thành Phật.
Tôi đặt nghi vấn
cho quí vị thấy. Thông thường chúng ta nghe nói ai
ngăn trở phá hại người tu hành, nhất là tu
hạnh Bồ-tát làm lợi ích chúng sanh, th́ phải đọa
địa ngục. Đề-bà-đạt-đa
mỗi lần phá hại
Bồ-tát th́ phải rơi
vào địa ngục, trả hết tội ở
địa ngục khi trở lên c̣n dư báo phải làm súc
sanh rồi đến làm người si ám ngọng
liệu. Vậy tại sao mỗi khi Phật ra đời
đều có ông theo sau phá Phật? Vậy là ông thoát
khỏi địa ngục sao? Nếu Đề-bà-đạt-đa
không phải là một vị
đại Bồ-tát th́ ông rơi xuống địa
ngục mất rồi, đâu có thể theo Phật hoài,
đâu có thể Phật đến đâu ông đến
đấy được. Mỗi lần hại Phật,
hại Bồ-tát là một lần phải đọa
địa ngục trăm ngàn kiếp th́ làm sao có mặt mà
phá hoài? Hơn nữa lần nào ông cũng có oai quyền
chớ không phải là người thường. Như
vậy để biết rằng với cái nh́n của kinh
Pháp Hoa, Đề-bà-đạt-đa là một vị
đại Bồ-tát ứng dụng nghịch hạnh
để giúp Bồ-tát chóng thành Phật. Thế nên nh́n
với con mắt Phật thừa th́ thấy hạnh phúc
quá! Chúng ta tu mà ai chửi chúng ta nhiều, đó là
đại Bồ-tát làm nghịch hạnh để giúp
chúng ta mau đạt đạo, dù phải xuống
địa ngục. Đại Bồ-tát th́ đúng ra chúng
ta phải lễ bái chớ đừng nói mang ơn thôi.
Như vậy với cái nh́n đó chúng ta thấy rằng
người làm trở ngại đường tu của
chúng ta không phải là kẻ tầm thường. Chúng ta tu
là làm lành, giáo hoá người làm lành, đó là điều
tốt, thế gian đều thừa nhận như
vậy. Nhưng có người lại hại chúng ta,
chửi mắng chúng ta, vậy họ không biết tốt
xấu sao? Họ làm như vậy mục đích
để làm ǵ? Dĩ nhiên là để thử xem
đạo lực chúng ta ra sao? Nếu đạo lực
chúng ta c̣n yếu th́ phải ráng tu để mau tiến,
nếu đạo lực mạnh th́ vượt qua,
tức là cũng mau tiến, như vậy là cơ hội
để thử thách cho chúng ta vươn lên, giúp chúng ta
tiến lên. Đó đúng là Thiện hữu tri thức.
Nếu người làm nghịch hạnh, chửi mắng
chúng ta trên phương diện tu hành, nghĩa là
người làm khổ chúng ta đă là Thiện tri thức
th́ người giúp chúng ta có phải là Thiện tri thức
không? Đương nhiên là Thiện tri thức. Chúng ta nh́n
kẻ chửi mắng là Thiện tri thức, kẻ giúp
đỡ cũng là Thiện tri thức, vậy mới là
tâm b́nh đẳng đối với người phá và
người giúp. Tâm b́nh đẳng mới gọi là
Đại từ bi, đó là tâm Bồ-tát. Muốn
đạt Phật thừa th́ phải có Bồ-tát tâm. V́
thế tất cả chúng ta tu theo Phật th́ phải
hiểu rơ ư nghĩa này, có như thế trên
đường tu chúng ta mới thấy không có ǵ là
chướng nạn, tất cả đều là duyên
hoặc thuận hoặc nghịch giúp chúng ta mau đạt
đạo thôi. Vậy th́ đừng giận người
này, trách người kia, hờn người nọ.
Bồ-tát không thấy có người thù địch,
nếu thấy có thù địch th́ không phải là
Bồ-tát v́ tâm chưa b́nh đẳng, c̣n có ân có oán, chưa
b́nh đẳng là chưa phải đại từ bi. B́nh
đẳng mới gọi là từ bi, t́nh thương trùm
khắp không có thân sơ. Thế nên tinh thần Phật
thừa cho thấy người nào giúp chúng ta tu tiến th́
người đó là Thiện tri thức của ta.
Thiện tri thức có khi thuận hạnh, có khi nghịch
hạnh, nhưng dầu thuận, dầu nghịch cũng đều
là Thiện tri thức, vậy có ai mà chúng ta chán ghét đâu?
Hiểu như vậy quí vị mới thấy việc tu
hành của chúng ta rộng răi thênh thang vô cùng tận.
Đến cái nh́n của
Thiền tông, trong bài Chứng Đạo Ca ngài Huyền Giác
đă nói :
Tùng
tha báng, nhậm tha phi,
Bả hỏa thiêu thiên
đồ tự b́,
Ngă
văn kháp tợ ẩm cam lộ,
Tiêu
dung đốn nhập bất tư ngh́.
Hẳn ai cũng thuộc
làu bài này, nhưng không biết mấy người hành
được? Chỉ thuộc lời nói chớ chưa
thuộc ở công hạnh. Tôi giải thích: “Tùng tha báng,
nhậm tha phi” tức là mặc người chê, mặc
người chửi mắng. Tại sao mặc cho
người chê bai, chửi mắng? V́ “Bả hỏa thiêu
thiên đồ tự b́”, sự chê bai mắng chửi
của họ giống như là cầm cây đuốc
đốt thiêu bầu trời. Cầm đuốc thiêu
trời th́ chừng nào trời cháy? Nếu chúng ta cầm
lâu th́ thế nào? Tay chúng ta bị cháy chớ trời không
bao giờ cháy. Câu này thâm sâu làm sao! Chúng ta có cái bệnh là
bị ai mắng ai chửi, chúng ta liền vồ lấy
lời mắng chửi đó để ăn thua. Thế
th́ chẳng khác nào người ta vừa cầm
đuốc quơ, chúng ta liền đưa rơm lại
cho cháy bừng rồi la lên. Trái lại đức Phật
hay Bồ-tát mặc người chửi, mặc
người mắng, tâm vẫn thản nhiên như bầu
hư không không động. Không động th́ lời
chửi mắng rốt lại về ai? Chỉ bao nhiêu
đó cũng thấy việc tu hành của chúng ta cao hay
thấp. Nhiều khi học đạo thuộc làu, nói thao
thao nhưng gặp việc th́ sân si vẫn c̣n đầy
trong ḷng, đó là bệnh. Người thật tu phải
theo gương đức Phật, ai chửi cũng
mặc, cứ chậm răi đi, đến cuối cùng khi
họ hỏi th́ trả lời một câu nhẹ nhàng mà
đạo lư, như vậy mới là thật tu. Nếu
tất cả quí vị Tăng Ni và Phật tử ở
đây đều thuộc ḷng và ứng dụng
được hai câu này th́ chắc Thiền viện
tiến bộ vô cùng và quí vị đều là Bồ-tát con.
Dễ quá chỉ có hai câu thôi mà ứng dụng
được là Bồ-tát con. Mặc ai khen, mặc ai chê,
tâm chúng ta không động th́ giống như họ cầm
lửa đốt trời; trái lại tâm chúng ta
động th́ giống như họ cầm lửa
đốt, chúng ta cầm bổi tới mồi nên chỉ
một lúc là hai người mặt đỏ hết.
Ở thế gian đều như vậy cả thành ra bên
nào cũng khổ, bên kia cầm lửa đốt
trước rồi chúng ta cầm bổi tới mồi th́
hai bên đều cháy tiêu. Như vậy mới thấy
đạo lư là dạy chúng ta làm sao cho bản thân ḿnh không
khổ và cũng cứu khổ cho người.
Người ta nóng cầm lửa đốt, chúng ta
phải nguội để cho nó không cháy. Đốt không
cháy họ buồn họ bỏ luôn, chúng ta cũng không
khổ. Trái lại người mới cầm đuốc
đốt, chúng ta đem bổi lại liền, rồi hai
bên cùng cháy, cháy lan khắp cả, chính v́ thế mà khổ,
thiền viện này phiền năo, thiền viện kia
cũng phiền năo, am cốc này phiền năo, am cốc kia
cũng phiền năo, đó là v́ mồi lửa với nhau
chớ không chịu dập tắt. Tôi thấy chỉ
cần nhớ hiểu được ư nghĩa này th́
đường tu của chúng ta tiến bộ biết bao
nhiêu.
Đến
hai câu sau th́ thật là tuyệt vời:
“Ngă văn kháp
tợ ẩm cam lộ,
Tiêu dung
đốn nhập bất tư ngh́.”
Nghĩa
là tôi nghe giống như uống nước cam lồ, tiêu
dung vào chỗ không thể nghĩ bàn. Nghe chửi mà như
uống nước cam lồ ngon ngọt, quí vị có
thể được như vậy không? Tôi chỉ yêu
cầu quí vị thuộc ḷng hai câu trên, đừng đem
bổi tới mồi là được rồi chớ
như uống nước cam lồ là quá cao. Uống
nước cam lồ vừa mát mẻ lại vừa
ngọt ngào, nghe chửi mà mát mẻ ngọt ngào thật là
Bồ-tát mới được, chớ chúng ta chưa
được. V́ thế tất cả chúng ta khả
dĩ ứng dụng hai câu trên được, c̣n hai câu
dưới phải chờ một, hai kiếp sau mới có
thể ứng dụng nổi. V́ xem như uống
nước cam lồ nên mới tiêu dung vào chỗ không
thể nghĩ bàn.
Như vậy theo cái nh́n
của những bộ Kinh thuộc Phật thừa hay cái
nh́n của Thiền tông, cũng gọi là Tối
thượng thừa th́ đều thấy những khó
khăn trở ngại là những điều tốt giúp
chúng ta tiến lên. Ngài Huyền Giác c̣n nói thêm:
Quán
ác ngôn thị công đức,
Thử tắc thành ngô
thiện tri thức,
Bất nhân xan báng khởi
oan thân,
Hà biểu vô sanh từ
nhẫn lực.
Nghĩa là chúng ta phải
xem lời nói ác của người là công đức cho
chúng ta. Người ta chê chúng ta, chửi chúng ta đó là
chúng ta tăng trưởng công đức chớ không có
mất. Quí vị xét xem có phải không? V́ nếu bị
người chửi mà chúng ta vẫn an nhiên không
động th́ người chung quanh sẽ đánh giá chúng
ta như thế nào? À, cô ấy tu thật, cô ấy tu hay,
như vậy là công đức rồi. Trái lại nghe
người mắng một câu, chúng ta t́m một câu khác nặng
hơn đáp lại th́ đó là công đức hay là ǵ?
Đó là quán ác ngôn thị tội lỗi! Nghe lời nói ác mà
chúng ta an nhiên không hờn không oán, đó mới là công
đức. Vậy ai nói lời dữ với chúng ta
tức là đem công đức đến cho chúng ta,
phải không? Thấy là phải th́ cố gắng thực
hành. Nếu xét lời nói ác là công đức th́
người nói những lời ác ắt là Thiện tri
thức. Như đoạn trước tôi nói: Chê bai hay giúp
đỡ đều làm cho chúng ta tiến, vậy
đều là Thiện tri thức, không có người
xấu người dở, trong xă hội này ai cũng giúp cho
chúng ta tiến cả.
Ngài giải thích tiếp:
“Bất nhân xan báng khởi oan thân” nghĩa là đừng do
chê bai mà khởi tâm đây là kẻ oán, kia là người
thân. C̣n thấy có oán có thân th́ “Hà biểu vô sanh từ
nhẫn lực” nghĩa là c̣n thấy có kẻ oán,
người thân th́ đâu đủ tiêu biểu sức
từ bi nhẫn nhục của chính ḿnh.
Như thế người
tu, nếu ai chửi một câu đáp lại một câu,
đó là hay hay dở? Được người khen hay
chê? Trái lại nếu người chửi mà chúng ta im
lặng không giận không hờn th́ người ta khen hay
chê? Dĩ nhiên người ta sẽ khen: Cô ấy tu
thật, thầy ấy tu thật. Chúng ta muốn tu
thật chớ không ai muốn tu dối. Vậy chúng ta
phải làm sao? Nên an nhiên đừng giận, đừng nóng,
như thế mới là thật tu và mới tăng
trưởng công đức. Quí vị kiểm lại xem
trong lúc làm Phật sự, tất cả chúng ta có gặp
những điều như đức Phật gặp
chưa? H́nh như chưa. Hiện giờ người ta
tốt với chúng ta quá, nếu có nói ǵ cũng nói bóng nói cạnh
chút chút thôi, chớ chưa có ai chửi thẳng vào mặt.
Trong chúng đây quí vị thấy có huynh nào gọi tên ḿnh
chửi không? Chưa có, chỉ nói cạnh chút chút thôi mà
đă có lần muốn xăn tay áo rồi, như vậy
sức từ nhẫn đến mức nào? Hẳn là
bằng Trương Phi!
Tóm lại tất cả
chúng ta là người tu, dầu là xuất gia hay tại gia,
đều muốn tăng trưởng công đức, tiêu
diệt tội lỗi; chính tội lỗi là cái
chướng đưa chúng ta xuống ba đường
ác, c̣n công đức là duyên tốt đưa chúng ta
đến giải thoát. Hai việc quá rơ ràng, một
đưa lên, một kéo xuống. Có người nào tu mà nói
“tôi cầu xuống địa ngục” không? - Không,
nhất định là giải thoát. Vậy điều nào
kéo chúng ta xuống, nhất định là phải dừng,
như thế mới thật là người cầu
giải thoát. Thường mỗi khi đắp y, nhất
là y Tỳ-kheo, quí vị đọc bài kệ “Thiện tai
giải thoát phục”: lành thay chiếc áo giải thoát.
Đắp y là mặc áo giải thoát, giải thoát tức
là đi lên. Thế nhưng ai động đến là
nổi sân đó là đă phản bội với bản
nguyện từ buổi đầu.
Thế nên hôm nay nhân ngày
cuối năm, tôi kiểm điểm lại những
điều dở mà chúng ta c̣n vướng để
tất cả mọi người đều cố gắng
tinh tấn tu hành, làm sao mỗi năm qua là một năm chúng
ta vươn lên, chớ không thể qua một năm chúng
ta vẫn đứng y chỗ cũ, hoặc là lùi lại
th́ thật đáng trách. Người tu là người đă
nguyện bỏ hết cuộc đời thế tục,
cầu đạo giải thoát, mỗi năm qua là mỗi
năm bị thời gian giũa ṃn mạng sống,
mạng sống đă ṃn mà hạnh nghiệp không tăng
những điều hay, lại chứa thêm những
điều dở, như vậy đời tu sẽ đi
lùi chớ không tiến được. Vậy tất
cả chúng ta là đệ tử Phật th́ phải học
gương của Phật. Tôi chỉ cần quí vị
học đến mức bị người chửi mà
vẫn điềm đạm trả lời như
đức Phật, đó cũng là quá hay rồi, chớ
không đề cập đến tập thể hoặc
đủ các việc vu oan giá họa.
Tôi nhắc lại,
gương đức Phật rơ ràng đó, nếu tất
cả chúng ta quyết chí tu hành th́ chúng ta phải nhớ
để vươn lên, noi theo con đường của
Ngài chớ đừng lùi lại đi lối khác. Đó là
điều tôi thấy cần phải nhắc nhở, không
phải chỉ riêng cho quí vị mà cũng chính là nhắc
cho tôi, trên đường tu lúc nào chúng ta cũng phải
vươn lên chớ không dừng lại ở một
chặng nào.
Riêng tôi lâu lâu kiểm
lại, thấy thiên hạ sân nhiều quá tôi cũng
giật ḿnh. Người này mới nổi đốm
lửa nhỏ xíu thôi chưa phải là cây đuốc mà
người khác đă vội đem bổi tới mồi
liền nên lửa phiền năo cháy rực hoài. Như
vậy con đường tu là lư tưởng chúng ta đă
chọn để tiến, sao chúng ta lại phản
bội nó, không giữ đúng như lời hứa ban
đầu: Nguyện tiến trên con đường
giải thoát không lui. Nhất là mỗi đêm quí vị
tụng bài phát nguyện, Cây Kiếm Bát-nhă tay không rời,
nhưng quí vị có rời lúc nào chưa? Trong một
năm nay quí vị rời mấy lần? Hay là đến
giờ lên chùa mới cầm kiếm, khi ra khỏi chùa th́
ném cây kiếm đâu mất, đến khi gặp phiền
năo bị nó trói, không cắt đứt được,
đó là tại rời cây kiếm, không giắt nó sẵn
nơi lưng, nên quí vị thua trận măi!
Thế nên trên
đường tu không ǵ hơn là chúng ta hằng nhớ
bản nguyện ban đầu và ư chí khi chúng ta xuất gia.
Chúng ta quyết tu th́ phải quyết sửa những
điều dở xấu mà Phật đă chê trách và
phải hành những điều hay mà Phật đă hành,
như vậy mới xứng đáng là đệ tử
Phật, đệ tử xuất gia hoặc tại gia.
Nếu không th́ Phật dạy một đàng, chúng ta làm
một ngả, kết cuộc Phật đi một
đường, chúng ta đi một nẻo. Nếu
đường Phật đi là đường giải
thoát th́ đường chúng ta đi là đường
trầm luân. Như vậy chúng ta tự làm khổ ḿnh và
cũng không lợi ích ǵ cho ai hết.
Hôm nay nhân ngày cuối
năm tôi dẫn những câu chuyện của đức
Phật để tất cả quí vị biết rơ,
rồi tất cả chúng ta cùng noi gương Ngài mà
tiến tu để mai kia quí vị sẽ nối bước
theo đức Phật, không sai một bước nào,
như thế mới thật là xứng đáng.
]
VẺ ĐẸP TUYỆT TRẦN
XUÂN TÂN MÙI (1991)
(Tăng Ni)
Hôm
nay nhân ngày Tết Nguyên Đán năm Tân Mùi (1991), Tăng Ni
và Phật tử về đây chúc mừng năm mới và
yêu cầu chúng tôi có những lời nhắc nhở
đầu năm, để tất cả quí vị
nhớ cố gắng tu tiến trên đường giác
ngộ, nên tôi sẽ có ít lời với quí vị. Hôm nay
chúng tôi nói đề tài lạ một chút, nghe dường
như phàm tục nhưng thật không phải trần
tục, đó là “VẺ ĐẸP
TUYỆT TRẦN”.
Mở
đầu tôi dẫn lời cổ đức đă nói:
Sơn
cùng thủy tận nghi vô lộ,
Liễu ám hoa minh biệt
nhất thôn.
Nghe
hai câu trên quí vị cảm thấy thế nào? Tôi tạm
dịch :
Núi
cùng sông hết nghi không lối,
Liễu
biếc hoa tươi riêng một thôn.
Người xưa từ
đức Phật đến chư Tổ, đều nh́n
thấy cuộc sống của con người trên trần
gian này, hay nói gọn là kiếp người, ai ai cũng
như nhau. Có mặt trên đời rồi chờ ngày chết,
trăm người như một không có lối nào khác; dù
sang trọng quyền quí hay nghèo hèn cực khổ, cũng chỉ lăn lộn trong
cuộc đời mấy mươi năm rồi cùng
đi theo con đường chung là trở về cơi
tử, v́ thế nói:
“Sơn cùng thủy tận
nghi vô lộ”, nghĩa là khi đi trên đường núi
đến chỗ cùng rồi, nguồn sông đến
chỗ nghẽn rồi, người ta nghi ngờ là
hết lối đi, tất cả người đều
thấy như vậy và đều phải chấp
nhận như vậy. Nhưng nếu ai có phúc duyên,
biết tu, biết t́m một lối thoát th́ sẽ
đến:
“Liễu ám hoa minh biệt
nhất thôn”, tức là liễu biếc hoa tươi riêng
một thôn. Khi đến chỗ cùng đó không phải là
hết, nếu người biết tẽ một lối
khác th́ sẽ thấy ở bên kia c̣n một thôn đầy
liễu biếc hoa tươi đẹp đẽ, thôn
đó không giống con đường cùng, con
đường tuyệt vọng của người
đời, mà là một lối tẽ đặc biệt
tràn đầy những cái tươi đẹp sáng
sủa không ai ngờ, không ai biết.
Như vậy người
đời ai cũng nghĩ ḿnh sanh ra, lớn lên có gia
đ́nh, con cái, lo cho con cái lớn khôn rồi sửa
soạn chết. Trăm người như một đều
đến chỗ không c̣n lối thoát, nhưng rồi quen
đi nên ai cũng thấy
lẽ đương nhiên là như vậy, phải
chấp nhận chớ không có cách nào khác. Nhưng phúc duyên
thay những người con Phật! Đức Phật
đă vạch cho chúng ta một lối thoát, lối thoát
đó Ngài đă đi qua nên Ngài chỉ cho chúng ta cùng
tiến. V́ thế ngày nay, người xuất gia hoặc
tại gia được duyên lành theo Phật, khi
đến chỗ sơn cùng thủy tận lại có
một lối tẽ khác đẹp đẽ vô cùng.
Lối tẽ đó là VẺ ĐẸP TUYỆT TRẦN,
không c̣n dính một mảy bụi chớ không phải
tuyệt trần theo nghĩa
thế gian thường hiểu.
Như thế quí vị
mới thấy người đời thật đáng
thương! Khi sanh ra người ta cứ nghĩ lo cho
hết bổn phận rồi chết, chấp nhận con
đường cùng ấy. Đáng thương hơn
nữa là khi sắp chết cũng không biết số
phận ḿnh sẽ ra sao, chết rồi đi đâu?
Đường trước mờ mờ mịt mịt,
v́ thế Tổ Qui Sơn có câu: ‘‘Tiền lộ mang mang
vị tri hà văng”, tức là đường trước
mờ mờ không biết về đâu! Như thế
niềm đau khổ thứ nhất là đi đến
chỗ cùng, chỗ chết mà không biết làm sao thoát.
Niềm đau khổ thứ hai là khi chết thân phận
ḿnh sẽ ra sao, mờ mịt không biết đâu mà
lường trước. V́ không biết nên khi sống
mải lo cho cái sống, đến lúc ngă ra chết đành
phó thác cho số phận, số phận đó là sẽ
đi theo nghiệp. V́ không biết nên nghe đến cái
chết người ta kinh hoàng sợ hăi. Nếu chúng ta
biết đạo rồi th́ đường trước
có mờ mờ hay không? Dĩ nhiên là không. Tại sao?
Nếu chưa ra khỏi sanh tử, chúng ta đă biết
chọn một lối đi trên con đường lành, nên
khi mất thân này chúng ta tiến trên con đường lành,
cơi người cơi trời. Như vậy đối
với người tu, dù chưa tiến đến chỗ
giải thoát trọn vẹn, ít ra cũng đă chọn
được con đường đi, nên khi sắp
nhắm mắt chúng ta yên ḷng, biết rằng con
đường trước sáng sủa hơn hiện
tại, sẽ đẹp đẽ vô cùng.
Tóm lại tất cả
chúng ta là người biết đạo, biết tu, th́ trên
đường đời chúng ta không phải là
người tuyệt cùng bặt lối, trái lại chúng ta
có một lối rẽ, một lối thoát rất
đẹp đẽ mà đức Phật đă chỉ
dạy cho chúng ta. Lối thoát đẹp đẽ đó
đưa chúng ta đến chỗ an lành muôn thuở,
chớ không phải chỉ là cái đẹp đẽ trong
một thời gian ngắn ngủi tạm bợ rồi
tan hoại. Thế nên cái đẹp mà tôi kể ở
đây là “vẻ đẹp tuyệt trần”, chữ
tuyệt trần theo nghĩa thông thường là
đẹp hơn tất cả, nhưng ở đây chúng
tôi dùng chữ tuyệt trần là dứt sạch không c̣n
một mảy trần. Ḷng trần đă sạch th́ cái
đẹp đó mới là tuyệt trần. Nói như
thế để tất cả quí vị ư thức rằng
chúng ta được duyên lành đi trên đường tu
giải thoát là chúng ta đă có một lối đi
đẹp đẽ, sáng sủa, vui tươi tràn
đầy hạnh phúc ở ngày mai chớ không phải
chúng ta đi trên đường cùng, đi trong lối
nghẽn và cũng để mừng rằng đời
chúng ta không phải đen tối, không phải mù mịt
như bao nhiêu chúng sanh khác.
Tiếp đến tôi
dẫn những bài quí vị đă học để quí
vị nhớ lại kỹ con đường ḿnh đi
qua. Đầu tiên là tôi dẫn một ít bài trong mười
mục chăn trâu để tất cả quí vị
thấy con đường chúng ta đi qua đẹp
như thế nào. Đa số người thế gian cho
người tu chúng ta là kẻ bất hạnh v́ không
được quyền hưởng những niềm vui
thế gian, chúng ta xây mặt với hạnh phúc trần
gian. Nhưng họ không ngờ chính v́ đa mang hạnh phúc
trần gian nên kết cuộc tất cả người
đời đều phải châu mày than thở. Thoạt
nh́n dáng bên ngoài ai cũng có vẻ tươi tắn, tỏ
ra vui cười, nhưng nếu đi sâu vào từng cá
nhân, từng gia đ́nh, chúng ta thấy thế gian khóc
nhiều hơn cười. Cuộc đời có ǵ vui
đâu, nhưng lỡ rồi phải cắn răng mà
chịu, chớ không biết làm sao hơn! Thấy chúng ta là
người không đua đ̣i, không đuổi theo dục
lạc thế gian, họ tưởng chúng ta là kẻ
thiệt tḥi nhưng không ngờ chúng ta lại có một
lối đi đẹp đẽ lâu dài. Tuy nhiên không phải
bước vào lối đó là mọi việc đều
như ư. Quí vị nhớ mục số một trong
mười mục chăn trâu, thằng chăn có
được thảnh thơi không? Trâu hoang cắm
đầu chạy, trâu mạnh mười, sức
thằng chăn chỉ có một, trâu lại
đương hoang, muốn chinh phục, muốn kềm
giữ nó là cả một công tŕnh. Nếu thằng chăn
dùng trí khôn ngoan, dùng mọi phương tiện nào dây dàm
cột mũi, nào roi đánh th́ sẽ điều phục
được nó. Trái lại nếu thằng chăn quá
dốt, quá khờ cứ chạy đuổi theo con trâu mà
trong tay không dây, không roi th́ chắc không thể điều
phục nổi nó. Thế nên trong giai đoạn
đầu người chăn trâu là người cực
khổ. Khác hơn ở thế gian, do thả tâm
đuổi theo dục lạc nên được một
chút dục lạc nào người ta cho đó là
hưởng hạnh phúc. C̣n chúng ta là người xoay
lại chăm chăm lo chăn con trâu của ḿnh nên không
đoái nh́n, không t́m hưởng dục lạc thế gian,
v́ vậy mà hai quan niệm khác nhau. Chăn trâu trong giai
đoạn đầu là khó khăn, là nhọc nhằn
khổ sở nhưng khi chăn được, tức là
giai đoạn xỏ được mũi rồi lôi
cổ nó theo ḿnh, th́ từ đó về sau từ từ
sẽ nhẹ nhàng. Đến đây tôi dẫn bài kệ
chăn trâu số sáu tức là mới quá bán phần trên
đường tu mà đă được sung sướng
như thế này, quí vị nghe th́ thấy rơ ràng là tràn
trề hạnh phúc.
Kỵ
ngưu dĩ lệ dục hoàn gia,
Khương địch
thanh thanh tống văn hà,
Nhất phách nhất ca vô
hạn ư,
Tri âm hà tất cổ
thần nha.
Khi chúng ta điều
phục được trâu, rồi ngồi trên lưng trâu
thuần thục cỡi về nhà vào buổi chiều th́
c̣n ǵ sung sướng hơn! Gió mát trời trong, ngồi
trên lưng trâu cầm ống sáo vừa thổi vừa ca
thật là vui vô hạn, “Nhất phách nhất ca vô hạn
ư”, niềm vui không thể kể hết! “Tri âm hà tất
cổ thần nha”, những người tri âm của ḿnh
đâu cần phải mở miệng nói. Bài này tôi tạm
dịch:
Cỡi
trâu thong thả trở về nhà,
Tiếng sáo vi vu tiễn văn
hà,
Một nhịp một ca vô
hạn ư,
Tri âm
đâu phải động môi à.
Như vậy quí vị
thấy chỉ mới quá bán phần trên đường tu
mà đă vui vẻ như thế, huống nữa là măn
đường tu th́ vui đến mức nào. Có phải là
chúng ta sống một đời tràn trề hạnh phúc hay
không? Thế nên nếu chúng ta chịu khó nỗ lực
chăn được con trâu của ḿnh th́ mai kia trên
đường tu, trên đường về quê
hương, chúng ta là kẻ thảnh thơi nhất, an nhàn
nhất, nh́n thấy toàn là hoa tươi cỏ đẹp
chớ không c̣n những nỗi buồn bă khổ đau
của kiếp người. Đấy là “biệt nhất
thôn” tức là một làng riêng, làng chúng ta trở về
đó. Trên đây là nói về bức tranh chăn trâu thứ
sáu của Thiền tông.
Bức tranh chăn trâu
thứ sáu của Đại thừa có khác một chút:
Lộ
địa an nhiên ư tự như,
Bất
lao tiên sách vĩnh vô câu.
Sơn đồng ổn
tọa thanh tùng hạ,
Nhất khúc thăng b́nh
lạc hữu dư.
“Lộ địa an nhiên ư
tự như” tức là con trâu nằm dưới
đất trống yên ổn nghỉ ngơi.
“Bất lao tiên sách vĩnh
vô câu” là không nhọc nhằn cầm roi và dây mũi.
“Sơn đồng ổn
tọa thanh tùng hạ”, thằng chăn ngồi
dưới cội tùng thong thả.
“Nhất khúc thăng b́nh
lạc hữu dư”, hát một bản nhạc thăng
b́nh, vui không c̣n ǵ hơn. Quí vị thấy niềm vui
đến đây thật không thể diễn tả hết
được. Bài kệ này chúng tôi tạm dịch:
Đất
trống ngủ yên ư tự an,
Chẳng
cần roi mũi, măi thanh nhàn.
Tùng xanh dưới cội
mục đồng nghỉ,
Một
bản thăng b́nh rất hân hoan.
Vừa rồi là h́nh
ảnh một chú mục đồng ngồi trên lưng
trâu thổi sáo, đến đây là h́nh ảnh một chú
mục đồng ngồi dưới cội tùng hát bản
nhạc thăng b́nh, tức là đến thời thái b́nh thịnh
trị, mọi người đều vui ca thong thả,
không c̣n bận rộn lo âu ǵ cả.
Như
vậy kiểm lại trên đường tu, nếu
tất cả chúng ta nỗ lực chịu cực chịu
khổ qua nửa phần đường, trong nửa
phần đường đó:
-
Giai đoạn thứ nhất là vất vả trăm
phần,
-
Giai đoạn thứ hai sự vất vả c̣n khoảng
tám mươi phần,
-
Giai đoạn thứ ba sự vất vả c̣n khoảng
sáu mươi phần,
-
Đến giai đoạn thứ tư c̣n khoảng
bốn mươi phần,
-
Đến giai đoạn thứ năm xem như hết
vất vả rồi,
-
Giai đoạn thứ sáu là bắt đầu thảnh
thơi tự tại trên con đường trở về
quê hương.
Đó là những h́nh
ảnh tôi cho là đẹp tuyệt trần, chính khi chúng ta
chiến thắng được bản thân ḿnh, chiến
thắng được vọng tưởng (cụ
thể hoá bằng con trâu đă thuần thục, đă nghe
lời và chú mục đồng ngồi trên lưng trâu
trở về), lúc đó mọi sự thảnh thơi
sẽ đến với chúng ta, niềm an lạc vô biên vô
tận sẽ đến với chúng ta.
Vậy con đường
tu là con đường tăm tối hay là con
đường tươi sáng?
-
Con đường của chúng ta đi là con
đường tươi sáng vô cùng, thế mà có nhiều
người đi vừa hơi mỏi chân là đă muốn
trở về, thật là đáng tiếc v́ chọn con
đường tu tức là đă t́m được
một lối đi đẹp đẽ vui tươi an
nhàn tự tại.
Tuy nhiên không có sự an vui
hạnh phúc nào mà chúng ta không phải trả giá bằng
mồ hôi, nước mắt. Như nhiều khi ngồi
thiền phải muốn khóc v́ đau chân, hoặc ở
trong chùa nhiều khi bị rầy nên khóc lên khóc xuống.
Song nếu chúng ta nỗ lực cố gắng th́ ngày mai
chúng ta sẽ được hưởng cảnh thanh nhàn
an vui, nếu không muốn trả cái giá đó mà đ̣i
hưởng cảnh an nhàn tự tại th́ chắc là không
có. Ở trong đạo cũng như ở thế gian,
muốn được quả vui trước hết chúng
ta phải có công phu khó nhọc. Thí dụ như muốn
hưởng những quả mít ngon th́ hiện tại chúng
ta phải đem hạt mít ương trồng, phải bón
phân, tưới nước, nhổ cỏ từ ba năm
đến năm năm mới thu được kết
quả, chớ không bao giờ muốn ăn mít ngon liền
có mít ngon, trừ khi có tiền trong túi. Nhưng muốn có
tiền cũng phải lao động đổ mồ hôi
mới có được. Vậy muốn hưởng
quả tốt trước hết phải chịu cực
chịu khó, quả tốt mới đến
được. Có nhiều người mơ tưởng
rằng chùa, Thiền viện là cảnh cực lạc,
cảnh thiên đường tại thế, vào đó ngày
nào cũng vui, giờ nào cũng an. Hiểu như vậy e
là lầm, v́ vào đó rồi c̣n phải dùng bao nhiêu công phu
mới qua được những khó khăn để
đến chỗ an lạc, chớ không phải vào chùa
rồi mọi việc đều như ư.
Tôi nhắc lại
để quí vị hiểu con đường chúng ta
chọn, chúng ta đi là con đường rất
đẹp, rất tươi vui, xán lạn ở ngày mai,
nhưng muốn đi đến lối rẽ an lạc
đó, t́m được thôn riêng đó, chúng ta phải
đi tột cùng con đường dài mới bước
sang được lối tẽ này. Tôi chỉ mới
dẫn hai bài thơ nói đến mục thứ sáu của
mười bức tranh chăn trâu mà quí vị đă
thấy đẹp đẽ như vậy. Đến đây
tôi dẫn những bài quí vị vừa học trong
Tuyết Đậu Tụng Cổ, tức là ngài Tuyết
Đậu tụng các công án.
Đầu tiên là công án
Thiền sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn đăng
đường nói với chúng rằng: Ngài nắm ḥn núi
Tu-di lại, nó nhỏ bằng hạt gạo, hạt lúa.
Ngài Tuyết Đậu tụng cho chúng ta nghe như thế
này:
Ngưu
đầu một, mă đầu hồi,
Tào Khê
cảnh lư tuyệt trần ai.
Đả
cổ khán lai quân bất kiến,
Bách hoa xuân chí vị thùy
khai?
Tạm
dịch:
Đầu
trâu mất, đầu ngựa về,
Trong vắt Tào Khê kính
chẳng nhơ.
Đánh trống đến
xem anh khó thấy,
Trăm hoa xuân đến
nở v́ ai?
Bài này có cái đẹp nào mà
tôi đem vào đây? Ngài Tuyết Phong Nghĩa Tồn nói:
Ngài nắm núi Tu-di lại nhỏ bằng hạt lúa,
hạt gạo. Núi Tu-di lớn bao nhiêu? Hạt gạo
lớn bao nhiêu? Nắm ḥn núi to lại bằng hạt lúa
hạt gạo là để nói lên điều ǵ? Tức là
dưới con mắt của Thiền sư, tất cả
những tướng đối đăi lớn như núi
Tu-di, nhỏ như hạt gạo... không c̣n nữa. Như
vậy cái nh́n của Thiền sư đă thoát khỏi
mọi tướng đối đăi của trần gian.
Khi thoát khỏi mọi đối đăi của trần
gian, tâm chúng ta sẽ như thế nào? Sẽ không c̣n dính
một chút bụi trần. Sở dĩ chúng ta c̣n dính
bụi trần là v́ c̣n ở trong đối đăi hơn thua,
phải quấy, được mất, nên phiền năo theo
đó dấy khởi , tâm chúng ta trở thành nhiễm ô, v́
thế gọi là trần ai. Ngài Tuyết Đậu
thấy được công án này nên Ngài mới hạ câu
đầu:
‘‘Ngưu đầu
một, mă đầu hồi” tức là đầu trâu
mất, đầu ngựa về, nghĩa là một câu vô
nghĩa vô lư, không ai biết là ǵ, để nói lên khi con
người đă thoát khỏi đối đăi th́ không có
ư niệm, không có t́nh duyên theo cảnh. Thế nên nói
“đầu trâu mất đầu ngựa về”, nói
một cách không có lư thú để diễn tả tâm không c̣n
dính mắc với cảnh.
Đến câu thứ hai:
“Tào Khê cảnh lư tuyệt trần ai” là trong gương Tào
Khê không dính một mảy bụi. Nghe nói gương Tào Khê
ai cũng tưởng là gương của Lục Tổ, nhưng
nếu tất cả chúng ta đi theo con đường
của Lục Tổ th́ chúng ta đều có cái gương
riêng, gương đó cũng được gọi là
gương Tào Khê. Như vậy tất cả chúng ta khi tâm
dứt đối đăi th́ không c̣n dính một mảy
bụi ở trong ḷng. Hiện nay nếu quí vị buông hết
những được mất hơn thua v.v... th́ ḷng quí
vị có phiền năo không? - Đâu c̣n tí nào phiền năo và
phiền năo hết th́ tâm ḿnh trong sáng như gương
không dính một mảy bụi. Khi ấy:
“Đả cổ khán lai
quân bất kiến”: đánh trống mời thiên hạ
đến xem, nh́n trong gương cũng không ai thấy
được một mảy bụi, cũng không ai
thấy được cái gương như thế nào.
Câu kết thúc thật là
đẹp đẽ: “Bách hoa xuân chí vị thùy khai?”
Nghĩa là đến mùa Xuân, trên núi, trong rừng, bên
cạnh suối... trăm hoa đua nhau nở là v́ ai ? V́ quí
thầy hay v́ quí Phật tử? - Không v́ ai cả. Nghĩa
là Xuân đến th́ hoa nở chớ không phải v́
người này xem hoa, người kia yêu hoa mà nó nở cho
họ xem.
Như vậy khi tâm chúng ta
không c̣n dính một mảy bụi th́ muôn vật đều
đẹp đẽ trước mắt chúng ta, khi duyên
đến tức là thời tiết đến, mùa Xuân
đến th́ hoa tự nở chớ không phải v́ ai,
không phải đợi chúng ta chăm sóc vun bón... Đây là
một công án diễn tả tâm chúng ta khi tự tại không
c̣n kẹt ở hai bên th́ kết quả sẽ tốt
đẹp như thế.
Đến công án thứ hai
là công án của ngài Vân Môn. Một hôm ngài Vân Môn bảo: Ngày
mười lăm về trước th́ không hỏi ông,
ngày mười lăm về sau hăy nói một câu xem? Không ai
đáp được, Ngài tự nói: Mỗi ngày đều
là ngày tốt. Công án này hay ở điểm nào? Tất
cả chúng ta đang sống trong hiện tại nhưng
tâm chúng ta nhớ chuyện hôm qua, hôm kia, năm xưa,
năm cũ, tức là sống ở hiện tại mà tâm
lùi về quá khứ. Nhiều khi sống ở hiện
tại mà tâm hướng về vị lai như ngày nay là
ngày mồng một Tết mà chúng ta nghĩ tháng hai, tháng ba
chúng ta sẽ phát tài hoặc tháng tư, tháng năm chúng ta
đi ngoại quốc... Giờ phút hiện tại không
sống th́ sống cũng như chết, chết nhưng
c̣n ăn, c̣n nói, c̣n đi. Ăn, nói, đi, mà chết v́
chính hiện tại mới là sống, nhưng trong ba
thời quá khứ hiện tại vị lai tâm chúng ta
cứ lui về quá khứ hoặc hướng tới
vị lai, mơ ước tưởng tượng mà quên
mất giây phút hiện tại. Thế nên Ngài mới nói
không hỏi ngày mười lăm về trước mà ngay
ngày mười lăm về sau hăy nói cho một câu, không ai
nói được th́ Ngài nói ‘‘mỗi ngày đều là ngày
tốt”. Như thế không cần mở lịch, v́ ngày nào
cũng là ngày tốt. Tại sao? Đây ngài Tuyết
Đậu tụng:
Khứ
khước nhất, niêm đắc thất,
Thượng
hạ tứ duy vô đẳng thất.
Từ hành đạp
đoạn lưu thủy thanh,
Túng
quan tả xuất phi cầm tích.
Thảo nhung nhung, yên
mịch mịch,
Không Sanh nham bạn hoa lan
tịch,
Đàn chỉ kham bi
Thuấn Nhă Đa.
Tạm dịch:
Bỏ
đi một, nắm được bảy,
Trên
dưới bốn bên không đồng bậc.
Thong
dong đạp bặt tiếng suối reo,
Phỏng
xem vẽ được chim bay dấu.
Cỏ
xanh ŕ, khói trắng bạc,
Không
Sanh bên núi hoa rơi loạn,
Khảy
tay làm thảm Thần Hư Không.
Qua bài kệ này chúng ta
thấy tài của ngài Tuyết Đậu diễn tả
khi tâm chúng ta không c̣n kẹt quá khứ, vị lai, đó là
dùng mấy chữ “bỏ đi một, nắm
được bảy” nghĩa là không c̣n kẹt vào quá
khứ, vị lai nữa, chỉ ngay hiện tại thôi.
“Trên dưới bốn
phương không đồng bậc” nghĩa là bốn
hướng và trên dưới không có cái ǵ gọi là
giống nhau. Như vậy nếu tâm chúng ta đối
với thời gian không c̣n có niệm sai biệt
hướng về quá khứ vị lai mà sống ngay
hiện tại th́ thế nào? Tâm đă b́nh đẳng
nghĩa là ngay trong phút giây này hiện tại th́ thế nào?
Tâm đă b́nh đẳng nghĩa là ngay trong phút giây này
“Thong
dong đạp bặt tiếng suối reo.” Dầu cho
tiếng suối reo bên cạnh, chúng ta đi rất thong
thả bên bờ suối, cũng đạp
được tiếng suối im bặt. Sao hay
đến thế? Tiếng suối có h́nh dáng ǵ mà
đạp được bặt tiếng? Đó là
để nói rằng khi tâm chúng ta không c̣n niệm
hướng về quá khứ vị lai, chỉ sống
với hiện tại thôi, lúc đó sẽ có diệu
dụng, dường như chúng ta đi từ từ thong
thả mà cũng làm cho tiếng suối reo im bặt.
“Phỏng xem vẽ
được chim bay dấu”, nghĩa là thấy chim bay
trong hư không, giả sử muốn vẽ dấu của
nó, cũng vẽ được. Như vậy hai câu này
diễn tả khi chúng ta dứt được tâm quá
khứ vị lai rồi th́ ngay trong phút hiện tại này
chúng ta sẽ được diệu dụng, nó vi tế vô cùng, những
bước đi thong dong làm cho suối phải im tiếng,
chim bay trong hư không dường như mắt cũng
thấy được dấu chân của nó. Đây lại
đẹp thêm:
“Cỏ xanh ŕ, khói trắng
bạc.” Khi ấy chúng ta
thấy đây là cỏ mùa Xuân xanh ŕ như nhung, kia là
đám mây khói trắng như bạc, không c̣n ǵ xấu xa
đen tối nữa. Tiếp đến Ngài dẫn:
“Không Sanh bên núi hoa rơi
loạn”, tức là ngài Tu-bồ-đề ngồi bên sườn núi im lặng mà
Thiên Đế Thích rải hoa cúng dường. Tâm chúng ta
đến chỗ nhất như th́ dường như
không nói không làm mà tất cả chung quanh đều cảm
thông, đều thấy được.
“Khảy tay làm thảm
Thần Hư Không”: chỉ khảy ngón tay, Thần Hư
Không cũng hiện ra buồn thảm. Khi chúng ta tu hành
đến giai đoạn tâm
được an nhiên tự tại th́ mọi diệu
dụng tràn đầy trước mắt và chúng ta nh́n
thấy tất cả đều hay, đẹp và nên
thơ. Tôi dẫn những kệ tụng trên để quí
vị thấy tương lai đẹp đẽ của
con đường chúng ta đang đi.
Sang đến Thiền
sư Việt Nam của chúng ta có nh́n giống như
thế không? Đây là vị Thiền sư mà tôi
thường hay nhắc nhất, đó là Thiền sư
Chân Không. Có vị Tăng hỏi: Khi sắc thân bại
hoại th́ thế nào? Tức là người ta đến
lúc chết th́ thế nào? Ngài
liền đáp:
Xuân
khứ Xuân lai nghi Xuân tận,
Hoa
lạc hoa khai chỉ thị Xuân.
Tôi tạm dịch:
Xuân
đến Xuân đi ngỡ Xuân hết,
Hoa
nở hoa tàn vẫn là Xuân.
Thật đẹp làm sao!
Người ta thắc mắc băn khoăn hỏi
sắc thân của chúng ta, đến giờ phút bại
hoại th́ thế nào? Người thế gian đến
giờ phút đó là khóc, là khổ đau, nhưng với
Ngài th́ Ngài bảo: Xuân đến Xuân đi ngỡ Xuân
hết, hoa nở hoa tàn vẫn là Xuân. Mùa Xuân có đến
có đi, như hôm nay bắt đầu mùa Xuân tức là
Xuân đến, ba tháng sau gọi là Xuân đi, đến
rồi đi, tưởng như Xuân hết. C̣n hoa nở
trong mùa Xuân, như hôm nay các cành mai đang nở, mai mốt
nó sẽ tàn, nở trong mùa Xuân, tàn cũng trong mùa Xuân,
như vậy sống chết vẫn ở trong cái tươi
đẹp chớ không bao giờ mất. Thế là sống
đẹp mà chết cũng tươi, không phải
sống là vui chết là khổ. Tại sao? V́ đối
với người thấy đạo sống và chết
chỉ là sự sanh diệt của ḥn bọt trong biển,
hợp hoặc tan cũng đều nằm trong biển,
có thoát đi đâu, khi hợp lại không làm cho biển
tăng lên, khi tan ra cũng không làm cho biển giảm
xuống, hợp hay tan cũng thế thôi. Thế nên
Thiền sư khi thấy con người lúc sắp lâm chung
bồi hồi lo sợ không biết thân phận sẽ ra sao th́ Ngài nói rơ rằng: Mùa Xuân
đến, mùa Xuân đi người ta tưởng là mùa
Xuân hết, nhưng hoa khi nở khi tàn, dù có hai thời,
vẫn là trong một mùa Xuân. Vậy mùa Xuân ở đây là
mùa Xuân măi măi chớ không phải mùa Xuân chỉ có trong
thời tiết ba tháng. Như vậy để thấy
rằng sự có mặt và vắng mặt của chúng ta
trên trần gian này chỉ là tạm thời chớ trong cái
tươi sáng vĩnh viễn, chúng ta lúc nào cũng hiện
hữu, không bao giờ thiếu vắng. Đó là
điều Thiền sư đă thấy như vậy.
Đến
một vị Thiền sư khác vào đời Lư, Thiền
sư Viên Chiếu. Có một vị Tăng hỏi Ngài:
Thế nào là nghĩa Kiến tánh thành Phật? Ngài trả
lời:
Khô
mộc phùng xuân hoa cạnh phát,
Phong
xuy thiên lư phức thần hương.
Tôi tạm dịch:
Cây
héo Xuân về hoa nở rộ,
Gió
đưa ngàn dặm nực hương mầu.
Khi Tăng hỏi nghĩa
Kiến tánh thành Phật th́ Ngài đáp: giống như là cây
héo, cây khô gặp mùa Xuân về liền nở hoa.
Người thế gian v́ không nhận ra Phật tánh
của ḿnh nên thấy thân này có sanh, có diệt, khi sanh là vui
mừng, khi diệt là khổ đau; trái lại
người tu nh́n thấu được tánh chân thật
của ḿnh, tức là kiến tánh, th́ thấy thân này có tàn có
hoại cũng như là cây khô, khi thời tiết nhân duyên
đến tức là mùa Xuân về nó vẫn nở hoa,
chớ không phải mục luôn. Người tu khi ngộ
đạo thấy tánh rồi th́ ngay nơi thân tầm
thường, nhớp nhúa, không ra ǵ này có cái đẹp
đẽ tươi sáng vô cùng, đó là ví dụ mùa Xuân
về hoa nở rộ.
Đến câu kế “Gió
đưa ngàn dặm nực hương mầu”, lúc gió
ở đâu thổi về đều nghe mùi hương
nhiệm mầu thơm ngát mũi. Như vậy hai câu
thơ này cho chúng ta thấy đường trước
chúng ta đẹp đẽ làm sao, giống như mùa Xuân
về hoa nở rộ, giống như gió ngàn phương
thổi về mùi thơm nhiệm mầu nồng nực
khắp bầu trời. Như thế quí vị thấy
đẹp đẽ thơm tho là con đường chúng
ta đang đi, đang tiến tới.
Lại có vị Tăng
hỏi: Thế nào là bản ư của chư Phật?
Ngài Viên Chiêu liền đáp:
Xuân
chức hoa như gấm,
Thu lai
diệp tự hoàng.
Dịch:
Xuân dệt
hoa như gấm,
Thu sang lá tự vàng.
Câu trả lời
đẹp làm sao! Mùa Xuân đến hoa nở đẹp
như gấm thêu hoa, mùa thu sang lá vàng rụng. Như
vậy Xuân đến, thu sang vẫn là tự nhiên, Xuân về
hoa nở, thu đến lá vàng, sự vật là như
thế. Bản ư chư Phật thế nào? Bản ư chư
Phật là như nhiên, như Xuân về hoa nở, thu
đến lá vàng, không có ǵ thêm, không niệm trần nào len
lỏi vào.
Đến Thiền sư
Thiền Lăo, một hôm vua Lư Thái Tổ đến, thấy
Ngài ở trong núi, Vua hỏi: Ngài ở đây
được bao lâu rồi?
Ngài trả lời:
Đản
tri kim nhật nguyệt,
Thùy
thức cựu Xuân thu.
Tạm dịch:
Chỉ
biết ngày tháng này,
Ai hay
Xuân thu trước.
Nhà vua liền hỏi thêm:
Ḥa thượng ở đây hằng ngày làm ǵ? Ngài trả
lời:
Thúy
trúc hoàng hoa phi ngoại cảnh,
Bạch
vân minh nguyệt lộ toàn chân.
Dịch:
Trúc
biếc hoa vàng đâu cảnh khác,
Trăng
trong mây bạc hiện toàn chân.
Ngài Thiền Lăo Thiền
sư trả lời câu hỏi của vua Lư Thái Tổ
về thời gian Ngài ở trong núi bao lâu là: Chỉ biết
ngày nay tháng này thôi. Như vậy Ngài đang sống với
niệm hiện tại (ngay bây giờ), không nhớ quá
khứ, không mơ tưởng vị lai. Nếu con
người được như vậy th́ hiện
tại đang làm ǵ? Ngài trả lời: Nh́n trúc biếc hoa
vàng, thấy trăng trong mây bạc... tất cả đều
hiện cái thể chân thật của chính ḿnh, chớ không
có ngoài.
Vậy khi chúng ta tu hành
đến lúc tâm ḿnh tự tại, không dính mắc một
cái ǵ, lúc đó tất cả cảnh trước mắt
chúng ta đều nên thơ, đều tuyệt diệu,
những cảnh đẹp không thế nào diễn tả
hết, những cảnh đó chúng tôi gọi là vẻ
đẹp tuyệt trần, nghĩa là đẹp mà không
dính một mảy bụi nào. Bụi đó ở đâu?
Ở trong tâm chúng ta. Tâm không c̣n chút bụi th́ mọi
cảnh trước mắt đều đẹp,
đều nên thơ. Trái lại nếu tâm chúng ta c̣n
bụi phiền năo th́ mọi cảnh đều là cảnh
buồn, cảnh tang tóc. Như thế tất cả chúng ta
tu hành là đă chọn được một con
đường, con đường tươi sáng hạnh
phúc ở mai sau. Chọn được rồi, hiện
chúng ta đang cất bước đi, quí vị có
muốn đi nhanh đến để hưởng hay
không? Hay quí vị thích ngồi chơi, chần chờ trong
những đám gai góc, những vũng bùn lầy? Tôi ví
dụ như chúng ta là khách du lịch muốn đến
một thành phố đẹp, nhưng biết rằng trên
đoạn đường về thành phố phải qua
những đoạn đường lồi lơm, nhơ
nhớp, bẩn thỉu, quí vị nghĩ chúng ta muốn
đi nhanh qua để đến chỗ tươi
đẹp mà chúng ta hằng mơ ước, hay là chúng ta
cứ dần dà đến chỗ nào mệt th́ ngồi
chơi để ngửi mùi hôi hám của những
đống rác, hay dừng lại những chỗ
đất lồi lơm gai góc, ngồi xuống th́ bị
đâm thủng chẳng hạn? Chắc không ai bằng ḷng
ngồi ĺ măi ở chỗ nhơ nhớp gai góc khi biết
rằng đến nơi kia sẽ đẹp đẽ
trăm phần. Thế nên chúng ta đă có một lối
đi, đă biết được kết quả sẽ
là tươi sáng, đẹp đẽ th́ phải nỗ
lực, không nên chần chờ, hẹn nay, hẹn mai mà
phải ráng đi đến nơi, sớm chừng nào
tốt chừng nấy.
Tóm lại hôm nay là ngày
đầu năm, tôi phác họa con đường đi
của quí vị để thấy đó là con
đường tươi sáng . Vậy mong rằng tất
cả quí vị nếu không phải là người yếu
hèn hay thác loạn, th́ sẽ không chần chờ, không
thối lui trên bước đường toàn là hoa thơm
cỏ lạ. Chúng ta phải hăng hái, cố gắng
tiến đến chỗ chúng ta đă nhắm, đến
mục tiêu chúng ta đă quyết đến v́ đó là
nơi đẹp đẽ, tươi sáng, là nơi an
lạc muôn đời. Chúng ta đâu c̣n dốt nát dại
khờ ǵ mà phải dính nhiễm, căi nhau trong đám gai góc?
Đánh nhau trong gai có vui ǵ đâu, dù có thắng cũng
trầy da tróc vảy. Thế th́ mặc ai muốn tranh
hơn thua, muốn lôi kéo... chúng ta cứ gỡ mà đi,
đi thẳng đến đích cuối cùng là nơi
đẹp đẽ vô hạn. Đến đó rồi
mặc t́nh ngồi chơi thổi sáo hát khúc thanh b́nh,
rảnh rang cỡi mây cỡi gió về rủ bạn bè cùng
đi với ḿnh cho vui, chớ không lẽ lăn lộn măi
trong đám gai góc bùn lầy, giành nhau những cái không
đáng giành, hơn nhau những cái không đáng hơn th́
thật là uổng phí cả cuộc đời.
Mong rằng năm nay, tôi
tạm gọi là năm cuối để hướng
dẫn dạy dỗ quí vị, những ǵ Kinh điển
Phật Tổ dạy, tôi đem ra giảng nói cho quí vị
nghe, quí vị ráng lănh hội đầy đủ và
đồng thời cố gắng mạnh mẽ
bước trên con đường chúng ta đang đi,
đừng giậm chân tại chỗ và tối kỵ là
đừng bao giờ trở bước lại. Đó là
điều tôi nhắc nhở, mong tất cả quí vị
ư thức được đường tu, biết ngày mai
tươi sáng th́ phải nỗ lực tiến lên, không nên
chần chờ nữa.
]
XUÂN TÂN MÙI (1991)
(Phật
tử)
Hôm
nay là ngày Tết Nguyên Đán, chúng tôi dùng h́nh ảnh hoa sen
để chúc Tết quí Phật tử. Trong đạo
Phật biểu tượng hoa sen có những ǵ kỳ
đặc? Hôm nay chúng tôi nói lên biểu tượng đó
để tất cả quí Phật tử ư thức
việc tu hành, sống theo tinh thần của biểu
tượng hoa sen và đi đúng theo hướng của
đức Phật đă dạy.
Nói đến hoa sen trước
nhất trong chùa, chúng ta thấy tượng đức
Phật ngự trên toà sen. Hẳn quí vị cũng nhớ
thuở xưa khi thành Phật Ngài ngồi ở đâu? Ngài
ngồi dưới cội Bồ-đề, trên toà cỏ.
Hiện nay chúng ta lại để đức Phật
ngồi trên ṭa sen, như vậy là không đúng sự
thật rồi. Vậy ṭa sen mang ư nghĩa ǵ mà tất
cả Phật tử chúng ta lại quí trọng để
làm đài cho đức Phật ngồi? Kế đến
khi đi chùa quí Phật tử thấy tháp thờ các vị
trụ tŕ hay những vị có đạo đức cao
đều có để các búp sen. Vậy các búp sen nói lên ư
nghĩa ǵ mà trong đạo Phật từ chùa, tháp cho
đến mộ của Phật tử cũng để
h́nh ảnh hoa sen? Cả đến gia đ́nh Phật
tử cũng dùng lá cờ có h́nh hoa sen. Đó là những
điều chúng tôi thấy người Phật tử
cần phải hiểu rơ để khi có người
hỏi chúng ta biết cách giải thích. Tuy không phải
khó nhưng giải thích không
suôn, v́ chúng ta không biết được ư nghĩa rơ ràng.
Đây tôi nêu ra hai phần:
1. Ư nghĩa biểu tượng hoa
sen theo tinh thần Phật giáo Nguyên thủy.
2. Ưnghĩa biểu tượng hoa
sen theo tinh thần Phật giáo Phát triển hay là Đại
thừa.
Theo
tinh thần Phật giáo Nguyên thủy: Thường hoa sen
xuất phát từ trong bùn nhơ, luôn luôn sen mọc trong ao,
trong hồ. Điều đó ca dao Việt Nam đă có
nhắc đến và quí vị cũng đă nhớ, đă
thuộc. Như vậy giá trị của hoa sen là từ
nơi bùn nhơ sen trỗi dậy, vươn lên khỏi
bùn, ra khỏi nước rồi trổ hoa. Lúc đầu
mầm nó chui trong bùn nhưng khi gần trổ hoa th́ nó
vượt khỏi bùn, ngâm trong nước và lên khỏi
mặt nước mới trổ hoa. Khi ở trong bùn th́
hôi, nhưng khi nó nở hoa th́ thơm ngát. Vậy giá trị
của hoa sen là từ chỗ nhơ nhớp hôi hám mà trổ hoa có mùi
hương tinh khiết, đó là điểm kỳ
đặc của hoa sen. Tỉ dụ như hoa hồng,
hoa cúc, hoa mai chúng ta trồng trên khô, trổ hoa thơm th́
cũng thường, v́ chúng không có cái ǵ hôi hám. C̣n sen ở
trong bùn lại trổ được hoa thơm,
điều đó thật hiếm có. Thế nên đạo
Phật dùng ư nghĩa này của hoa sen để
tượng trưng cho người tu hành. Theo sử,
đức Phật ngày xưa là thái tử con vua Tịnh
Phạn, Ngài sống trong cảnh vương giả
đầy đủ ngũ dục, tức là sắc, thanh,
hương, vị, xúc dư thừa. Ngài sống trong
ngũ dục, ch́m trong ngũ dục, nhưng chính từ
trong ngũ dục sau này Ngài thức tỉnh, Ngài thoát ra
khỏi ngũ dục và đi tu. Khi đi tu Ngài sống
khổ hạnh đến ngày viên măn đạo quả,
thành một đức Phật sáng suốt giác ngộ,
cũng như hoa sen từ trong bùn vươn ra khỏi bùn,
lên khỏi mặt nước rồi trổ hoa. Thế nên
đức Phật dạy:
Trước
tâm ta buông lung,
Chạy theo ái dục
lạc,
Nay ta chánh chế ngự,
Như
câu móc điều voi.
(Kinh
Pháp Cú 326)
Đức Phật kể
lại: Thuở trước lúc ở trong cung Thái tử,
tâm Ngài buông lung chạy theo ái dục, thụ hưởng
dục lạc, nhưng ngày nay tức là khi đi tu, Ngài
chế ngự được nó giống như
người nài (người chăn voi) dùng câu móc
điều phục voi. Như vậy quí vị thấy
từ trong vũng bùn ngũ dục Ngài thoát ra và trở
thành một vị giác ngộ giải thoát. Đức
Phật không phải từ phương trời nào
xuống, mà chính là một con người hưởng
đầy đủ dục lạc ở thế gian,
rồi tự điều phục, thoát khỏi ngũ
dục trở thành đấng giác ngộ.
Khi Ngài ở trong cung vua
thọ hưởng dục lạc, ví dụ như hoa sen c̣n
ở trong bùn; khi Ngài vượt thành xuất gia không c̣n
ở trong thế gian của dục lạc nữa, ví
dụ như hoa sen vượt ra khỏi bùn nhưng c̣n
ở trong nước; khi Ngài cố gắng tu hành cho
đến lúc được viên măn giác ngộ, giống
như hoa sen vượt khỏi nước, nở hoa.
Như vậy hoa sen từ lúc mới mọc đến khi
trổ hoa trải qua nhiều giai đoạn: Giai
đoạn một là ở trong bùn, giai đoạn hai là ra
khỏi bùn ở trong nước, giai đoạn ba là ra
khỏi nước, giai đoạn bốn là nở hoa
thơm ngát. Cũng như vậy cuộc đời của đức Phật có
nhiều giai đoạn: giai đoạn một là
đắm mê dục lạc ở thế gian, giai
đoạn hai là vượt thành xuất gia, giai
đoạn ba khi tu Ngài cố gắng tinh tấn tu cho
đến được giới thanh tịnh,
điều phục được tâm, giai đoạn
bốn là giác ngộ viên măn. Thế nên sau này chư Tổ
dùng hoa sen để tượng trưng cho công hạnh tu
hành của đức Phật, h́nh tượng đức
Phật ngựï trên đài sen là ư nghĩa như vậy. Sau
khi giác ngộ rồi đức Phật cũng dùng hoa sen
để dạy đệï tử và các đệ tử
Phật cũng học theo gương của Ngài.
Như
giữa đống rác nhớp
Quăng bỏ bên cạnh
đầm,
Chỗ
ấy hoa sen nở
Thơm
sạch đẹp ḷng người.
Cũng vậy giữa
quần sanh,
Uế nhiễm mù phàm
tục,
Đệ tử bậc
Chánh giác,
Sáng
ngời bằng trí tuệ.
(Kinh
Pháp Cú 58-59)
Qua bài kệ này chúng ta
thấy đức Phật dạy đệ tử của
Ngài phải giống như hoa sen, giống cách nào? Như
khi vào thành phố chúng ta thấy mấy xe rác hôi hám nhơ
nhớp, người ta đem đổ bồi các chỗ
trũng, các đầm. Chính nơi đó sen mọc lên, khi
sen nở, hoa có mùi rác hay mùi thơm thanh khiết? - Sen
nở có mùi thơm thanh khiết. Đó là đức
Phật dùng h́nh ảnh hoa sen để ví dụ. Ngài
dạy tiếp: “Cũng vậy giữa quần sanh uế
nhiễm, mù, phàm tục”, tức là ở giữa mọi
người chung quanh chúng ta, họ là những kẻ
uế nhiễm, mù tối, phàm tục, đệ tử
của bậc Chánh giác phải như thế nào? Đệ
tử của Phật phải cố gắng “sáng ngời
bằng trí tuệ”, tức là ở chỗ mù tối,
uế nhiễm chúng ta phải luôn luôn nuôi dưỡng trí
tuệ ḿnh được sáng ngời để xứng
đáng là đệ tử bậc Chánh giác. Như thế
quí vị thấy đức Phật dùng hoa sen để
nhắc nhở đệ tử Ngài phải sống
đúng như tinh thần của hoa sen, từ chỗ
nhiễm nhơ phàm tục phải dùng trí tuệ sáng
ngời đi đến giác ngộ.
Tiếp đến chúng tôi
nói biểu tượng hoa sen theo tinh thần Phật giáo
Đại thừa hay là Phật giáo phát triển, nó có
hơi khác một chút. Hẳn đa số Phật tử
ở đây đều có tụng kinh Pháp Hoa, Pháp Hoa là ǵ?
Pháp là Diệu Pháp, Hoa là Liên Hoa, nói tắt là Pháp Hoa, nói
đủ là Diệu Pháp Liên Hoa Kinh. Liên Hoa là hoa sen, Diệu
Pháp ví dụ như hoa sen nên
gọi là Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, như vậy kinh Pháp Hoa là
bộ kinh nói lên ư nghĩa Diệu Pháp giống như hoa
sen. Diệu Pháp là ǵ? Tức là Tri kiến Phật. Kinh Pháp
Hoa nói: “chư Phật ra đời v́ khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri
kiến”, nghĩa là chỉ dạy cho chúng ta ngộ
được Tri kiến Phật, tức là cái thấy
biết Phật của ḿnh. Vậy cái thấy biết
Phật của ḿnh ở đâu? - Ở ngay trong thân vô
thường nhơ nhớp này. Tri kiến Phật là cái
thanh tịnh, sáng suốt, là Diệu Pháp, là Pháp sẵn có
nơi con người chúng ta. Thân nhơ nhớp ô uế này
dụ như đống bùn. Đức Phật dạy thân
chúng ta là nhơ nhớp là bất tịnh nhưng trong cái nhơ nhớp
bất tịnh có cái thanh tịnh sáng suốt, v́ vậy mà
dụ Tri kiến Phật như hoa sen. Chúng ta khéo ứng dụng
tu theo lời Phật dạy trong kinh Pháp Hoa th́ sẽ
được giác ngộ, thấy được Tri
kiến Phật.
Đến các Thiền
sư nói về hoa sen như thế nào? Như một
Thiền sư đời Lư, ngài
Đạo Huệ có bài kệ:
Sắc
thân dữ Diệu thể,
Bất
hiệp bất phân ly.
Nhược nhân yếu chân
biệt,
Lô trung
hoa nhất chi.
Tôi dịch:
Sắc
thân cùng Diệu thể,
Chẳng
hợp chẳng chia ly.
Nếu người cần
phân biệt,
Trong ḷ
một cành hoa.
Cành hoa tức là cành hoa sen.
Các Thiền sư không nói hoa sen ở trong bùn nữa mà nói
hoa sen ở trong ḷ lửa. Hoa sen trong bùn th́ dễ hiểu,
c̣n hoa sen trong ḷ lửa là điều quá sức
tưởng tượng của chúng ta. Tôi sẽ giải
thích ư nghĩa này. Ḷ lửa là chỉ thân vô thường,
trong kinh Pháp Hoa cũng có dụ là “Tam giới vô an du như
hoả trạch”, nghĩa là ba cơi không an giống như
trong nhà lửa. Thân vô thường của chúng ta bị
thiêu đốt, nó khô, nó chết từng phút từng giây,
nhưng trong đó lại có một cái chưa bao giờ
bị thiêu đốt, luôn nguyên vẹn trong sáng tươi
tốt, nói theo kinh Pháp Hoa đó là Tri kiến Phật, nói
theo bài kệ này đó là Diệu thể. Ḷ lửa dụ
cho sắc thân, cành hoa dụ cho Diệu thể. Cành hoa là
biểu trưng cho trí tuệ sẵn có của chúng ta, nhà
Phật gọi là Phật tánh hay Chân tâm. Trí tuệ đó
sẵn trong thân vô thường này giống như hoa sen
trong ḷ lửa. Thân chúng ta bị lửa vô thường thiêu
đốt bại hoại nhưng hoa sen của chúng ta,
tức tánh giác của chúng ta, không bao giờ khô héo. Thế
nên đă bao lần thân này hoại đi qua thân khác mà tánh
giác không thêm, không bớt, không thay đổi dụ như
hoa sen trong ḷ lửa vẫn tươi tốt.
Đến vị thứ
hai, cũng đời Lư, Thiền sư Ngộ Ấn nói
khác hơn một chút:
Diệu tánh hư vô bất
khả phan,
Hư vô tâm ngộ
đắc hà nan.
Ngọc phần sơn
thượng sắc thường nhuận,
Liên phát lô trung thấp
vị càn.
Tôi tạm dịch:
Diệu
tánh rỗng không chẳng thể vin,
Rỗng không tâm ngộ
việc dễ tin.
Tươi nhuần sắc
ngọc trong núi cháy,
Ḷ lửa hoa sen nở
thật xinh.
Trong bài này Thiền sư
cũng nói hoa sen ở trong ḷ lửa .
“Diệu tánh rỗng không
chẳng thể vin” nghĩa là mỗi người chúng ta có
cái tánh nhiệm mầu tức là tánh giác, nó rỗng rang nên
chúng ta không thể nào vin theo được, không thể nào
nắm bắt được.
“Rỗng không tâm ngộ
việc dễ tin” là nếu khi tâm chúng ta rỗng rang không
c̣n dính mắc nữa th́ lúc đó chúng ta mới tin
được nó.
“Tươi nhuần
sắc ngọc trong núi cháy” nghĩa là ở trong ngọn núi
cháy rực, ḥn ngọc vẫn tươi nhuần không
bị khô, không bị cháy cũng không bị nứt bể...
“Ḷ lửa hoa sen nở
thật xinh” là ở trong ḷ lửa hoa sen vẫn nở
thật đẹp. Như vậy hoa sen ở trong ḷ
lửa là để nói ngay thân vô thường sanh diệt
của chúng ta vẫn có cái thể tánh hay là cái Diệu tánh
lúc nào cũng tươi nhuần, lúc nào cũng đẹp
đẽ không bị khô héo, hư hao trong khi tất cả
đều bị ngọn lửa vô thường thiêu
đốt. Như thế quí vị thấy ngay trong thân vô
thường có cái không phải vô thường, cái đó gọi
là Diệu tánh (theo ngài Ngộ Ấn) hay là Diệu thể
(theo ngài Đạo Huệ), đều chỉ cho cái chân
thật đó.
Lại có một vị
Tăng hỏi Ḥa thượng Tộ ở Trí Môn: Hoa sen khi
chưa ra khỏi nước th́ thế nào?
Ngài đáp: Hoa sen.
- Sau khi ra khỏi
nước th́ thế nào?
-
Lá sen.
Như thế lời
đáp có dễ hiểu không? Lời đáp như là không có
đáp, không thể hiểu ǵ cả. Nhưng sau này có
một vị Quốc sư Nhật Bản, ngài Viên Thông
Đại Ứng làm bài tụng để chúng ta thấy
rơ nghĩa đó. Ngài tụng:
Liên
hoa hà diệp ly nê thủy,
Xuất vị xuất
thời tuyệt điểm ai.
Vô hạn thanh hương
thâu bất đắc,
Hoà phong đới vũ măn
tŕ khai.
Tôi tạm dịch:
Hoa
sen cành lá ĺa bùn nước,
Ra
với chưa ra bặt điểm trần.
Vô hạn hương
thơm thu chẳng hết,
Theo
mưa quyện gió nở đầy ao.
Nói là ra khỏi nước
hay chưa ra khỏi nước, nói là hoa sen, cành sen hay lá
sen, cách nói đó là để chúng ta không bị t́nh giải
trói buộc. Vị Tăng hỏi “hoa sen khi chưa ra
khỏi nước như thế nào” là ư ngầm hỏi
khi Phật tánh của chúng ta c̣n lẫn trong tâm phàm tục
này hay là trong cái vọng tâm phiền năo này th́ thế nào?
Ngài liền trả lời:
Hoa sen.
Lại hỏi: Sau khi ra
khỏi nước th́ thế nào? Lẽ ra sau khi ra khỏi
nước là sắp nở, cũng như là tâm giác của
chúng ta khi thoát khỏi phiền năo là sẽ sáng, nhưng Ngài
lại đáp là “lá sen”. Như vậy đáp là hoa sen, là lá
sen, lối đáp đó đều không cho chúng ta hiểu mà
để chúng ta thấy. Nếu khi nào chúng ta không khởi
niệm suy nghĩ phân biệt - danh từ chuyên môn nhà
Thiền gọi là không khởi t́nh giải - lúc đó “ra
với chưa ra bặt điểm trần”, nghĩa là
không c̣n một mảy niệm nào làm cho nhơ nhớp.
Nếu không c̣n một mảy niệm nhơ nhớp th́ “vô
hạn hương thơm thu chẳng hết”, khi ấy
hương thơm tràn khắp, dù chúng ta muốn thu, thu
cũng không hết. “Theo mưa quyện gió nở
đầy ao” là theo mưa theo gió, đầy ao nở toàn
là hoa sen. Tóm lại ư bài tụng này muốn nói rằng khi
người ta đến chỗ tâm niệm không c̣n
đuổi theo ngoại cảnh hay là không c̣n khởi
những t́nh giải lăng xăng nữa, khi đó tâm
thanh tịnh không c̣n dính một mảy bụi nhơ
nhớp, khi ấy nơi
nơi hoa sen đều nở rực, nơi nơi là mùi
hương thơm ngát của hoa sen, không c̣n có những hôi
hám bẩn thỉu nữa. Đó là ư nghĩa hoa sen.
Tôi nhắc lại, tinh
thần Phật giáo Nguyên thủy nói về hoa sen như
chúng ta từng học từ thuở bé “Trong đầm ǵ
đẹp bằng sen...”, đó là ư nghĩa từ chỗ
nhơ nhớp trở thành thanh tịnh thơm tho,
đẹp đẽ, để chỉ cho tất cả
chúng ta từ con người phàm tục dở xấu,
nhưng khéo tu khéo sửa sẽ trở thành con người
hay, con người tốt. Con người hay tốt không
phải ngẫu nhiên có, mà phát xuất từ con
người xấu dở trước kia. Cũng như
đức Phật, không thể bỗng nhiên có Phật ra
đời, mà chính Ngài từ con người phàm tục
thọ hưởng dục lạc rồi sau thức
tỉnh bỏ dục lạc đi tu đến giác
ngộ. Như vậy đâu phải Ngài từ trên trời
rơi xuống, cũng không phải từ hành tinh xa lạ
nào đến đây, mà chính là con người chứa
đầy đủ bản tánh người như chúng ta,
nhưng khi tu rồi Ngài dẹp bỏ tất cả, Ngài
trở thành Phật. Hiện nay chúng ta có giống Ngài không?
Chúng ta tu dễ hay khó hơn Ngài? Nếu quí Phật tử
nam “lỡ” làm Hoàng tử th́ chắc là hưởng suốt
đời chớ không bao giờ bỏ ngai vàng đi tu!
Nếu quí Phật tử nữ làm Công chúa chắc cũng
khó đi tu lắm! Đức Phật cũng là một con
người, nếu Ngài mang tính chất thánh thiện
sẵn, chắc là Ngài không có gia đ́nh, không có con. Thế
th́ Ngài cũng như chúng ta, Ngài cũng có gia đ́nh,
cũng có con, nhưng Ngài dám dứt bỏ tất cả,
một phen ra đi khi nào ngộ đạo mới trở
về. Đó là điều đặc biệt của Ngài.
Trái lại chúng ta hiện nay đi đâu th́ nhớ nhà,
nhớ người này, nhớ người kia, nhớ con,
nhớ đủ tất cả... Thế nên chúng ta cũng
có tư cách như Ngài mà không làm được như Ngài,
c̣n Ngài cũng có tư cách như chúng ta mà Ngài đă làm
được con người xuất trần.
Nh́n đức Phật
rồi gẫm lại chúng ta, tất cả chúng ta
đều có khả năng làm Phật, nhưng rất
tiếc là chúng ta không gan. Thường thường quí vị
ai cũng nói ḿnh gan lắm, chớ đâu có ai nói tôi nhát
lắm, tôi khiếp nhược lắm, phải không?
Nhưng anh hùng là anh hùng với những người
yếu thế hơn ḿnh, như bên nam th́ anh hùng với
vợ con, vợ con nói sái ư th́ la hét và muốn tát tai
liền, nhưng lại không anh hùng với ḿnh, những
sự nóng giận, tham lam, si mê của ḿnh không có gan bỏ,
mà không có gan bỏ tức là không có anh hùng! Trong đạo
Phật, anh hùng là anh hùng với chính ḿnh. Những ǵ
biết là xấu, là dở liền cắt đứt ngay.
Tôi thấy quí Phật tử bên nam chắc cũng có
nhiều người ghiền rượu, ghiền
thuốc phải không? Biết ghiền rượu,
ghiền thuốc là hại sức khoẻ, là tốn
tiền, nhưng quí vị có bỏ được không?
Mười người khoảng hai, ba người bỏ
được, c̣n bảy, tám người không bỏ được,
như vậy là không gan, biết hại nhưng không gan
bỏ. Hành động cử chỉ mạnh bạo hung
tợn tỏ ra là anh hùng, nhưng rốt cuộc cái
hại, cái dở của ḿnh lại bỏ không nổi th́
đâu gọi là anh hùng. Như vậy để thấy
người đời không can đảm giải quyết
những điều hư, điều dở của ḿnh.
Trái lại, đức
Phật từ con người dở tức là con
người hưởng thụ ngũ dục trong cảnh
vua chúa sang giàu, nhưng khi thức tỉnh rồi ngay đó
Ngài dứt bỏ hết, Ngài đi tu. Chúng ta hiện nay
thật ra hưởng thụ có bao nhiêu đâu, sánh với
đức Phật khi c̣n làm Thái tử, Ngài thụ
hưởng trăm phần mà Ngài dứt bỏ một cách
dễ dàng, c̣n quí Phật tử thụ hưởng chưa
được mười phần mà bỏ không được,
như thế mới thấy chỗ yếu của chúng ta.
Chính sự yếu đuối đó làm cho chúng ta tu không
tiến, c̣n Ngài khi quyết định làm th́ dứt khoát làm,
khi vượt thành xuất gia rồi cho đến khi
ngộ đạo mới trở về thăm gia đ́nh.
C̣n chúng ta hiện nay ngồi trong chùa th́ nhớ gia đ́nh,
về gia đ́nh lại nhớ trong chùa, đi đi
lại lại không có thái độ dứt khoát, nên không
thể b́ được với Ngài.
Đến các Thiền
sư, các ngài thấy rơ thân chúng ta là thân vô thường
bại hoại, ai cũng bị vô thường chi
phối. Quí vị nhớ thuở nào chúng ta là người
trẻ, nay là người già. Sắc tươi trẻ
lần lần bị thiêu đốt, trở thành già, tóc
ngày xưa xanh nay đă bạc, răng ngày xưa cứng
chắc nay đă rụng, những ǵ tốt đẹp
thuở xưa nay đều bại hoại. Cái ǵ làm
hoại? Nhà Phật gọi đó là lửa vô thường
thiêu đốt. Tuy thân chúng ta bị lửa vô thường
thiêu đốt, nhưng trong đó có cái không bị thiêu
đốt, đó là Phật tánh, là Chân tâm của chúng ta.
Thế nên Thiền sư dụ Phật tánh, Chân tâm như
hoa sen, thân vô thường như ḷ lửa.
Như vậy tất
cả chúng ta ai cũng có hoa sen trong ḷ lửa, nhưng
hiện nay chúng ta nhớ ḷ lửa hay nhớ hoa sen? -
Cứ nhớ thân lửa cháy rần rần, c̣n hoa sen th́
không nhớ chút nào, thế nên khi thân cháy rụi th́ chới
với. Nay ngay trong ḷ lửa này chúng ta nhận ra hoa sen,
thấy hoa sen tươi thắm trong ḷ lửa, chúng ta
cười vui, dù lửa cháy đến đâu đi
nữa chỉ làm tươi thắm thêm hoa sen của ḿnh.
Ḷ lửa cháy, nó khô nó hoại, hoa sen vẫn tươi thắm
măi, vậy là trong cảnh vô thường chúng ta thoát
được cái vô thường. Trái lại, nếu chúng
ta chỉ nhớ thân ḷ lửa này, dầu chúng ta cung cấp
nuôi dưỡng nó bao nhiêu đi nữa, nó cũng phải
bại hoại. Có ai nuôi thân này khỏi bại hoại
không? Hẳn là không, nuôi cách nào rồi cũng bại
hoại, cũng không c̣n. Vậy tại sao cái sẽ không c̣n
mà chúng ta cố giữ, cố lo cho nó măi, trong khi cái c̣n măi,
không bao giờ mất, lại không nhớ? Như thế
chúng ta là người trung thành với ḿnh hay là người
phản bội ḿnh? Chúng ta thương chúng ta hay là ghét? Ghét
mới bỏ cái thật giữ cái giả, trái lại
nếu thương ḿnh th́ cái thật phải giữ, cái
giả đừng màng. Quí Phật tử thử kiểm
điểm lại xem, quí vị lớn tuổi trong sáu
bảy mươi năm nay quí vị giữ cái nào? Ḷ
lửa hay hoa sen? Ḷ lửa cháy rực thiêu đốt
hết bao nhiêu sự nghiệp mà cứ giữ, c̣n hoa sen
tươi thắm trong đó lại bỏ quên! Thật là
chúng ta tự hủy hoại, tự bỏ quên ḿnh! Thế
nên người Phật tử tu theo Phật cần yếu
là phải nhớ lại ḿnh, biết được ḿnh,
t́m ra cái thật của ḿnh, đó là căn bản của
sự tu.
Trong kinh đức Phật
dạy chúng ta tu là phải buông xả tâm chấp ngă này. Cái
ngă này tức là ḷ lửa. Khi không chấp thân, không chấp
cái ngă này là ḿnh th́ tâm chúng ta mới không dính mắc, không
tham, không sân, không phiền năo. Khi ấy trí tuệ chân
thật hiện ra, gọi là hoa sen hay Tri kiến Phật.
Vậy trí tuệ đó sẽ phát ra khi nào chúng ta không
chấp cái hư giả là ḿnh, cái hư giả là quí. Quí
vị có bằng ḷng điều đó không? Tuy nó giả mà
thương nó quá, không đành quên nó, v́ thương nó
nhiều nên có ai xúc chạm đến nó th́ nổi sân. V́
lẽ đó đức Phật thường dạy
người Phật tử phải biết thân này là vô
thường, vô ngă. Vô ngă là không phải thật ta mà
chấp là ta. Như hiện nay quí vị nghĩ da thịt
là ḿnh chăng? Nếu da thịt là ḿnh th́ chỗ nào lỡ
có u nhọt, người ta cắt bỏ ra th́ cái đó là
ḿnh hay là miếng thịt thúi? Chúng ta có gớm không? Nếu
là ḿnh th́ lúc nào cũng là ḿnh, chớ không thể c̣n ở
trong thân là ḿnh, cắt bỏ ra ngoài là không phải ḿnh,
rồi lại gớm nó. Như thế làm sao nói thân này là
thật được? Nhưng trong đó có cái chân
thật ẩn náu mà chúng ta không thấy. Thế nên
người tu dù xuất gia, dù tại gia đều
phải làm sao thấy được, t́m ra được
cái chân thật của ḿnh. Nhưng muốn thấy
được cái thật th́ phải biết cái giả.
Khi có những món đồ giả, nếu muốn mua
đồ thật đừng lầm đồ giả th́
phải làm sao? Phải biết đồ giả như
thế nào, đồ thật như thế nào, biết
được cái giả rồi mới t́m ra cái thật,
chớ nếu tưởng giả là thật th́ mỗi
lần mua là mỗi lần lầm. Thân này cũng vậy,
trong nó có cái giả mà cũng có cái thật, nếu không
nhận ra cái giả th́ không bao giờ biết
được cái thật. Thân chúng ta là thân vô thường
luôn luôn bị thiêu đốt, bị bại hoại. Cái ǵ
bị thiêu đốt, bị bại hoại là giả,
nhưng chúng ta cứ cho là thật. Thân ḿnh là thật, nên
khi nghe Phật nói thân này vô ngă, không phải là ḿnh th́
buồn khổ. Hiểu như vậy để biết
thân chúng ta là tướng duyên hợp, duyên hợp th́ không
thật. Thế nên nhiều lần tôi hay đặt câu
hỏi quí Phật tử: Thân
này là thật hay giả? Nhiều người trả
lời là giả, tất cả quí vị hẳn là
đồng ư. Nhưng câu trả lời “giả” là trong thâm
tâm thấy giả hay bắt chước nói theo Phật?
Tôi hỏi tiếp: Tại sao biết thân này là giả?
Đa số quí vị đáp: V́ Phật nói thân này vô
thường tạm bợ hư dối nên nói là giả.
Vậy là bắt chước mà đáp chớ không phải
chính ḿnh nhận biết. Thế nên tôi không chịu cách nói
đó. Nay tôi đặt câu hỏi quí vị: Mũi quí
vị đang làm ǵ?
- Đang thở.
- Thở nghĩa là làm ǵ?
- Chúng ta hít không khí ở
ngoài vào độ mấy giây đồng hồ liền
trả ra. Hít vào, trả ra. Có ai hít vào mà không trả ra không?
Nếu trả ra mà không hít vào th́ thế nào? Như thế
th́ cuộc sống này là nhờ hít vào, tức mượn
không khí ở ngoài, rồi trả ra, mượn trả,
mượn trả đều đều... Quí vị nói:
tôi ngồi chơi, chớ không ngờ ḿnh đang
mượn trả, mượn trả đều
đều không có lúc nào ngồi chơi cả. Nếu
trả rồi không mượn lại th́ thế nào?
Người ta gọi đó là tắt thở, là chết.
Nếu thân này là thật th́ không cần mượn, của
ḿnh rồi th́ mượn làm chi, trái lại phải
mượn mới c̣n, mới sống th́ đâu gọi là
thật. Mũi mượn không khí, miệng mượn
tách nước, một lát sau lại trả, rồi
đến mượn chén cơm rồi lại trả...
Mượn trả đều đều suôn sẻ đó
là cuộc sống yên lành. Nếu mượn mà trả không
được th́ thế nào? Th́ xuống đất.
Nếu trả mà mượn không được th́ thế
nào? Cũng xuống đất. Chúng ta thấy cuộc
sống thật đáng tức cười, chỉ là
mượn trả, nếu suôn sẻ th́ cười vui cho
là hạnh phúc, nếu trục trặc th́ nằm giăy
giụa rồi chở đi cứu cấp. Như vậy
trong cuộc sống này cái ǵ là thật? Trong nhà Phật nói
thân này do tứ đại (đất, nước, gió,
lửa) hợp thành, nhưng tự nó không bảo vệ
được, phải mượn đất nước
gió lửa bên ngoài bồi bổ luôn, nên lúc nào cũng
mượn trả. Xét theo lẽ đó thân mượn
trả là thân tạm bợ vô thường, giả dối
không thật. Không thật mà tưởng thật là không sáng
suốt. Nếu thấy rơ như vậy, quí vị có tỉnh
không? Tỉ dụ như hết nước th́ mượn
nước, như nước lă hoặc nước trà,
hoặc nước cam, nước xá xị v.v... Nếu
khô cổ cho một tách nước vào th́ hết khô.
Nhưng chúng ta lại cầu kỳ, cho nước lă không
chịu, phải kiếm nước cam, nước chanh
mới bằng ḷng. Cũng v́ ư muốn đó nên cực
nhọc, v́ phải làm ra tiền mới mua được,
chớ nước lă th́ không phải mua, không phải
tốn ǵ cả. Đến cần bồi bổ
đất, tức khi bao tử trống th́ kiếm chén
cơm với vài thức ăn đơn giản như rau
luộc... nhưng chúng ta lại đ̣i phải có ǵ xào chiên
thơm thơm, phải có thịt, có cá... nên phải
cực. Một hôm vào buổi sáng sớm, trên xe đi
từ Phước Thái về thành phố Hồ Chí Minh
đến một chiếc cầu vào thành phố, tôi nh́n
thấy nước dưới sông đen ng̣m mà có nhiều
người cầm rổ đi vớt, đi xúc,
nước đă hôi mà cứ dầm dưới đó là v́
cần kiếm ít con cá, ít con tép con con về ăn, chỉ
bấy nhiêu đó là vừa ư rồi. Thay v́ ở nhà
cuốc một liếp trồng rau, buổi sáng cắt vào
ăn, khỏi phải lạnh phải hôi ǵ cả, thế
mà không chịu. Lại gần đây trong chuyến đi
lên nghỉ trên Đà Lạt, mỗi sáng tôi đi quanh
hồ Xuân Hương, nhiều hôm trời lạnh
buốt, đi trên bờ c̣n phải mặc áo lạnh, mà
vẫn có những người cầm nơm xuống
hồ đi nơm cá, cả ḿnh ướt đẫm,
lạnh đánh ḅ cạp nhưng họ vẫn chịu
đựng. V́ sao phải cực nhọc như vậy?
Cũng v́ mượn đất vào cho hợp với
lưỡi của ḿnh, thật ra miễn thứ
đất nào có đủ chất bồi bổ cơ
thể là được, đâu cần phải có những
thứ ngon ngọt mới được. Như ở chùa
chúng tôi đâu có ăn con vật nào mà vẫn sống.
Nếu phải chịu lạnh lẽo kiếm mấy con
vật đó để ăn, thử hỏi cái khổ này
ai đày ḿnh vậy, ai làm ḿnh khổ? Có phải cái
lưỡi không?
Chúng ta thấy tất
cả cuộc sống của chúng ta v́ lệ thuộc vào
cảm giác của mũi, tai, mắt, lưỡi, thân nên
phải khổ. Nếu biết là vay mượn chúng ta
chỉ mượn những ǵ cần xài thôi, cũng như
xe hết xăng không chạy được th́ đổ
xăng vào, thân hết nước th́ khô, khó chịu,
uống tách nước vào th́ hết khô, cần ǵ phải
bày biện cho thêm khổ, càng cầu kỳ chừng nào th́
càng khổ chừng nấy. Uống trà, không thích trà
thường, phải trà hiệu này hiệu kia, thế nên
bao nhiêu tiền cũng không đủ, đó là lỗi
tại ai?
Nếu hiểu rơ tinh
thần Phật dạy, chúng ta thấy tu là phải
đơn giản. Muốn đơn giản cuộc
sống, chúng ta phải thấy rơ bản chất của
thân. Nó là một đống bùn nhơ, một tướng
vô thường, nó là cái ḷ lửa chớ không có ǵ tốt,
quí báu. Nếu chúng ta không lầm nó, đương nhiên
đời sống chúng ta sẽ đạm bạc, yên
ổn và việc tu hành của chúng ta cũng được
dễ dàng, trái lại nếu lệ thuộc vào nó th́
đường tu của chúng ta sẽ rất là khó.
Tóm
lại tôi giải thích cũng khá nhiều, hẳn quí
Phật tử không nhớ tôi muốn chúc điều ǵ.
Vậy tôi cô đọng lại lời chúc Tết
đầu năm của chúng tôi, để tất cả
quí Phật tử có mặt về kể lại cho quí
Phật tử vắng mặt là, tôi gởi lời chúc
tất cả quí Phật tử sang năm mới
đều là những mầm sen chuẩn bị thoát ra khỏi
bùn, khỏi nước và trổ hoa tươi đẹp
thơm tho.
]
ĐỜI TU CỦA TÔI
Đêm
nay là đêm Tất niên. Trong đêm này chúng ta kiểm
lại những tư tưởng và việc làm của
chúng ta trong năm qua để t́m một lối đi trong
sáng cho đời tu của ḿnh mỗi năm mỗi được
tăng tiến. Nhưng đêm Phổ trà hôm nay lại
đặc biệt hơn những năm qua v́ nó mang
một ư nghĩa rất quan trọng, không phải của
toàn chúng, mà quan trọng trong đời tu của tôi.
Kiểm điểm lại
từ khi đi tu cho đến ngày nay, chúng tôi đă làm
được những ǵ và đă có những thất
bại nào. Đây không có nghĩa là tôi kể lại một
ḍng lịch sử, mà chúng tôi muốn nói lên những cái
ưu cái khuyết của bản thân tôi trong cuộc hành
đạo, để quí vị lấy đó làm kinh
nghiệm sau này khi đứng ra lănh chúng dạy
người. Có được kinh nghiệm, quí vị
sẽ giáo hóa rộng răi như tôi hoặc hơn tôi.
Trong đời tôi ngang
đây phần giáo hóa coi như dừng lại, nếu không
phải là chấm dứt. Nếu có thêm thắt chút ít, không
đáng kể, c̣n phần chánh đến đây là đă
xong trách nhiệm của tôi. Cho nên chữ Tất niên hôm nay
là Tất một đời hoằng pháp của tôi
(Nhưng chưa đầy ba năm sau Ḥa thượng
trở lại hoằng hóa độ sanh và thành lập Thiền
viện Trúc Lâm tại Đà Lạt để làm sống
dậy Thiền tông đời Trần và cũng là khôi
phục Thiền tông Việt
Nam). Chắc rằng có nhiều người muốn nghe,
nên tôi không ngại mất thời giờ tuần tự
kể chuyện, quí vị vừa uống trà vừa nghe.
Trước hết tôi
kể về phần ưu trong đời tu của tôi.
Tôi thường tự
mừng và khoe với đại chúng rằng tôi
được Tam Bảo ưu đăi trên đường
tu, ưu đăi rất là trọng hậu. Những ưu đăi
đó tôi xin kể theo thứ tự:
Điểm ưu thứ
nhất:
Tôi gốc là người ngoại
đạo, không biết ǵ về đạo Phật
cả, cha mẹ tôi không biết đạo Phật,
bản thân tôi cũng không biết đạo Phật, mà ham
tu. Như vậy ham tu là một chủng tử trong quá
khứ, chớ không phải ở hiện tại. Tôi nghe
ông thân bà thân tôi kể lại: Khi được sanh ra th́
tôi đau yếu luôn, các chị gái của tôi cũng
vậy, chỉ sống được năm, bảy tháng
thôi. Đến phiên tôi th́ èo uột, nên trong nhà sợ
lắm. Có một số đạo hữu biết tụng
kinh nên mới rủ cha mẹ tôi nhập môn. Muốn
bảo đảm cho tôi được sống nên ông thân
tôi mới nhập môn theo đạo Cao Đài. Coi như tôi
là nhân tố đưa gia đ́nh theo đạo Cao Đài.
Như vậy tôi theo đạo khi mới lọt ḷng
mẹ, nhưng điều đặt biệt là sao tôi
lại thích đạo Phật. Tuy thích đạo Phật
nhưng không biết làm sao đến chùa, cũng không
biết thưa hỏi với ai. Chỉ biết là lúc nào
tôi cũng muốn tu Phật thôi. Tôi nghĩ đó là
chủng tử quá khứ chớ không phải mới. V́
thế khi phát tâm đi tu, thật t́nh tôi không biết
chọn lựa, v́ có từng vào chùa đâu mà biết nơi
nào hay nơi nào dở, nơi nào đáng học, nơi nào
không. Việc đi tu của tôi đối với
đạo Phật là một việc đánh liều, v́ ham
tu nên đi tu, không lựa chọn nơi chốn để
tu, cũng không nghĩ có thể làm lợi ích cho Phật
pháp mai sau. Song nhờ Tam Bảo gia hộ tôi đi đúng
chỗ. Vừa bước
chân vào đạo là tôi đi thẳng vào Phật
học đường, nơi Ḥa thượng Viện
trưởng đang dạy học. Ḥa thượng
đang dạy Sơ đẳng Phật học năm
thứ ba th́ tôi vào chùa. Ngài chấp nhận cho tôi tu và cho
học năm thứ ba Sơ đẳng mà thật t́nh tôi
chưa biết “chữ nhất”, v́ tôi đă mất hai
năm học đầu. Như vậy tôi học
đạo thật là không có thứ tự lớp lang chi
hết. Nhưng tôi được Ḥa thượng
thương, đưa cho tôi những kinh sách in sẵn
của Ngài để theo đó mà ḍ. Nhất là lúc ấy tôi
lại có một chú Thiện hữu tri thức c̣n nhỏ,
là anh chú bác với Đắc Huyền, hiệu là Thanh
Đức. Tuy c̣n nhỏ để chóp, nhưng chú rất
thông minh, giỏi chữ Hán, chú tiểu gọi tôi bằng
chú. Hai chú cháu học chung với nhau, chú tiểu đọc
chữ Hán tôi giải nghĩa. Tôi không thuộc mặt
chữ nhưng đọc đến đâu tôi biết
giải nghĩa đến đó, hai chú cháu hợp tác
với nhau học được một năm đến
cuối lớp Sơ đẳng bước lên Trung
đẳng.
Khi tôi bắt đầu vào
đạo năm 1949, ở dưới quê được
vài ba năm, đến năm 1953 th́ Ḥa thượng
Viện trưởng cho tôi và một số huynh đệ
về nhập học tại Phật học
đường Nam Việt, chùa Ấn Quang. Thế là chúng
tôi bắt đầu vào lớp Trung đẳng Phật
học. Khi c̣n ở quê,
mấy năm sau lớp học Ḥa thượng dạy
chỉ c̣n có hai người: bên Tăng là tôi, bên Ni là cô Trí
Định, mà Ḥa thượng vẫn giảng dạy
đều, nên khi lên Ấn Quang học chúng tôi theo kịp
huynh đệ không có ǵ gọi là khó khăn. Như vậy
Tam Bảo đă ưu đăi tôi nên xui khiến tôi đi
trúng chỗ, nếu không tôi sẽ đi vào các chùa làm
thầy cúng, cứ lo đi cúng kính hoài, không biết rồi
đời tu của tôi sẽ ra sao?
Tôi thuộc về loại
người cứng đầu, coi hiền nhưng
cứng đầu. Tu theo đạo Cao Đài tôi không
thỏa măn, v́ có những điều tôi thấy
dường như không thật nên tôi từ chối không
theo. Khi đến với đạo Phật, nếu tôi vào
chùa chỉ lo cúng kính, chắc tôi sẽ bỏ cuộc, hoặc
là hoàn tục, hoặc lên núi non tu theo ngoại đạo
không biết chừng.
Kiểm
điểm lại, tôi thấy Tam Bảo đă ủng
hộ tôi, hậu đăi tôi. Không biết lựa chọn,
cũng không quen với ai mà khi tôi bước vào chùa lại
trúng ngay Phật học đường, lại
được Ḥa thượng Viện trưởng
chỉ dạy. Ngài là một vị giáo thọ đầy
đủ đức và tài, sau này được mời lên
chùa Ấn Quang (Phật học đường Nam Việt)
làm Đốc giáo, tức là Hiệu trưởng. Theo
thế gian nói, tôi như chuột rơi vào hũ nếp!
Tôi chỉ biết ham tu, và đi vào chỗ đúng như
sở nguyện. Có nhiều người xuất gia
trước tôi năm mười năm, bây giờ là
trụ tŕ, chỉ lo cúng kính thôi, chớ không thông hiểu
đạo lư bao nhiêu, thật là đáng thương.
Điểm ưu thứ
hai:
Tôi là con người có
tật không chịu dừng, cũng không biết đủ
trong khi t́m kiếm một cái ǵ. V́ thế khi học lớp
Trung học Phật giáo, tôi được đọc các
quyển kinh mà những dịch giả nào là ngài Tam tạng
Pháp sư Cưu-ma-la-thập,
nào là ngài Tam tạng Huyền Trang..., các Ngài đều thông
suốt Tam tạng giáo điển, c̣n riêng tôi không biết
ǵ, chỉ được học năm, ba quyển kinh, th́
làm sao có đủ tư cách là người sau này lănh trách nhiệm làm lợi ích cho
nhiều người! Cho nên tôi ước mơ làm sao ḿnh
có được Tạng Kinh để t́m xem trong ấy
dạy những ǵ? Nếu không có Tạng Kinh th́ coi như đời tu của
ḿnh chỉ có một hai mảnh vụn của Phật pháp
thôi. Cái mơ ước đó của tôi rồi cũng
được toại nguyện. Tức là khoảng
năm 1961 đạo hữu Minh Đạo và gia đ́nh
phát tâm thỉnh cho tôi Tạng Kinh. Cũng năm đó tôi
bị bệnh phổi phải nằm bệnh viện, và
sau đó tôi lên Phương Bối ở Bảo Lộc
cất thất tên là Thiền Duyệt thất để
dưỡng bệnh. Nói đi dưỡng bệnh mà
thật t́nh tôi đọc kinh. Khai Tạng Kinh ra đọc,
tôi mới biết c̣n bao nhiêu quyển kinh tôi chưa
từng biết. Nhất là mấy bộ A-hàm, càng
đọc tôi thấy càng hay. Nhớ lại các bộ kinh Đại thừa tôi
thấy làm như tôi mất ḷng tin. Tại sao vậy? V́
kinh A-hàm thực tế và cụ thể quá, kể những
câu chuyện rơ ràng, c̣n các kinh Đại thừa kể
chuyện đâu đâu.
Ví dụ như trong kinh Kim
Cang ngài Tu-bồ-đề hỏi Phật: Người phát
tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, làm sao hàng
phục được tâm ḿnh? Phật bảo: Muốn hàng
phục tâm ḿnh th́ phải độ tất cả chúng sanh,
nào là có sắc, không sắc, cho đến có tưởng,
không tưởng v.v..., độ tất cả vào Vô dư
Niết-bàn. Đọc đến đây tôi nản quá: Vô
dư Niết-bàn tức là Niết-bàn của hàng A-la-hán, sau
khi chứng quả nhập Niết-bàn. Ḿnh bây giờ là phàm
Tăng chưa có cái ǵ hết, làm sao độ người
vào Vô dư Niết-bàn? Chẳng những độ
người mà phải
độ tất cả chúng sanh... tính chừng bao nhiêu? Vô
biên vô số th́ làm sao độ. Độ tất cả
vào Vô dư Niết-bàn mà ḿnh chưa được
Niết-bàn th́ làm sao độ được! Đến
đây tôi cứ thở dài, rồi nói: Ḿnh học kinh mà
không có thực hành ǵ được, Phật nói chuyện
cao xa trên trời trên mây đâu không.
Rồi tôi đọc thêm
kinh Pháp Hoa, lại khổ nữa. Nhất là trong phẩm
“Hiện Bửu Tháp” Phật đang nói pháp bỗng dưng
có cái tháp dưới đất chui lên lững lờ trên
hư không v.v..., chuyện không sao tin nổi. Đến
phẩm “Tùng Địa Dũng Xuất” cũng vậy,
Phật đang nói kinh, rồi đất rung động
nứt ra, Bồ-tát ở dưới đất vọt lên
vô số..., sao kỳ lạ quá không thể tin
được. Tự nhiên tôi thấy như mất ḷng tin
nơi kinh điển Đại thừa. Lúc ấy khi
dạy Tăng Ni tôi có nói một câu mà sau này tôi sám hối,
tôi nói rằng: “Kinh điển Đại thừa phải
để trên trang mà thờ, chớ không có ứng dụng
được, v́ dạy chuyện đâu đâu, làm sao
ứng dụng.” Tôi nói như vậy là thấy tôi mất
ḷng tin đến mức nào!
Lúc ấy tôi chỉ tin các
kinh A-hàm, cụ thể và thực tế. Nên khi nằm
ở Thiền Duyệt thất trên Phương Bối, tôi
soạn dịch ra những bài kinh A-hàm có đủ tính cách
cần thiết để dạy cho Tăng Ni. Mỗi
bộ A-hàm tôi đều trích dịch một quyển và
thầm nguyện để đền ơn Thầy
Tổ và đàn-na thí chủ th́ ḿnh phải dạy dỗ
lại một số Tăng Ni. Tôi soạn dịch
chương tŕnh đó xong và có ư ngầm sau khi hết
bệnh tôi sẽ mở lớp dạy chư Tăng.
Đó là một chương tŕnh chuyên khoa, chư Tăng
chuyên học Kinh điển để sau này ra làm trụ
tŕ hoặc làm Phật sự.
Điểm ưu thứ
ba:
Đến cuối năm
1962, tôi trở về thành phố ở trong An Dưỡng
Địa. Tôi cất một cái thất lá ở riêng, v́ có
mặc cảm bị bệnh phổi mà ở chung sợï
lây bệnh cho chúng tội nghiệp (mặc dù lúc ấy tôi
đă hết bệnh).
Khi ấy Ḥa thượng
Giám đốc Ấn Quang và Ḥa thượng Đốc giáo
tức là Thầy tôi bảo: “Thanh Từ hết bệnh
về Ấn Quang tiếp dạy.” Tôi thưa: “V́ bệnh
con là bệnh phổi ở chung trong chúng không
được tốt, hơn nữa ở Ấn Quang
ồn quá. Quí Ḥa thượng bảo con dạy, xin mở
trường tại An Dưỡng Địa này, con
mới có thể làm việc được.” Chính Ḥa
thượng Giám đốc đứng ra lo cất
trường Huệ Nghiêm năm 1963. Tôi mới nghĩ ra
chương tŕnh chuyên khoa dạy Tăng Ni trong ṿng ba
năm để đền ơn Thầy Tổ và
đàn-na thí chủ. Tôi mới mời Ḥa thượng
Bửu Huệ và Ḥa thượng Thiền Tâm cùng về
hợp tác mở trường chuyên khoa và chỉ nuôi ba
mươi Tăng sinh. Chúng tôi vận động th́ có
cư sĩ ủng hộ nuôi từng vị trong ṿng ba
năm. Lớp học đó bây giờ c̣n có mặt ở
đây là Phước Hảo, Thiện Phát, Nhật Quang. Tôi
nghĩ rằng chúng Tăng học trong ba năm có thể
hiểu vững được căn bản Phật pháp.
Lúc ấy chư Ni bên Dược Sư cũng phát tâm xin
mở một lớp chuyên khoa như vậy, có các vị Ni
lớn dự học, lớp ấy cũng do chúng tôi
chịu trách nhiệm. Như vậy chúng tôi thay phiên nhau
giảng dạy một lớp Tăng ở An Dưỡng
Địa và một lớp Ni ở Dược Sư,
dự định ba năm là tṛn bản nguyện của
chúng tôi. Nhưng vừa được một năm
rưỡi tức là khoảng cuối năm 1964 th́
Viện Hóa Đạo cho ba trăm Tăng vào ở tại
Huệ Nghiêm. Thành thử chúng tôi phải lo cai quản luôn
tất cả và mở thêm các lớp phụ vừa học
đời vừa học đạo. Chúng tôi lănh trách
nhiệm vừa lớp chuyên khoa và các lớp phụ cho
đến năm 1966, là xong bản nguyện ba năm
giảng dạy của chúng tôi.
Thế là Tam Bảo đă
ưu đăi tôi rồi, phải không? Ước mơ có
Tạng Kinh để ṃ mẫm nghiên cứu th́ có Tạng
Kinh. Dự định dạy ba mươi Tăng thôi, th́
có thêm một lớp Ni số học chúng cũng
tương đương. Sau đó lại trông coi thêm ba
trăm Tăng nữa... muốn một mà thành ba thành bốn.
Như vậy có phải là Tam Bảo đă ưu đăi tôi
không? Muốn ít mà được nhiều.
Điểm ưu thứ
tư:
Sau ba năm giảng dạy
tuy biết việc ở Học viện c̣n bề bộn,
và biết rằng Thầy tôi sẽ buồn, nhưng tôi
cũng xin rút lui ra Vũng Tàu cất thất ở và
đặt tên là Pháp Lạc thất. Thật ra tôi ham tu
Thiền. Khi vào đạo tôi đọc lịch sử
đức Phật thấy Ngài ngồi thiền
dưới cội Bồ-đề và thành Phật. C̣n tôi
bây giờ niệm Phật hoài, buồn quá, Phật đâu
có niệm Phật mà Ngài thành Phật, tại sao ḿnh không tu
giống Phật, ḿnh không phải đệ tử Phật
sao? V́ thế tôi quyết định tu Thiền. Tôi ham tu
thiền mà không thầy dạy, nên tôi ṃ trong tạng Kinh
đọc những bài nói về Thiền. Về Thiền
nguyên thủy tôi c̣n hiểu được, về Thiền
tông tôi cứ lắc đầu không hiểu nổi, các
Thiền sư nói như đùa vậy, hỏi một
đường đáp một ngả đâu đâu,
nhiều khi c̣n hung hăng đánh nạt, làm nhiều
chuyện quái gở không chịu nổi. V́ vậy tôi không
tin Thiền tông mà chỉ ứng dụng tu theo Thiền
Lục Diệu Pháp Môn, môn Thiền này gồm cả Nguyên
thủy và Đại thừa do ngài Trí Khải Đại
sư dạy.
Tôi thật t́nh ham tu
Thiền mà tiến th́ không tiến được v́ không
người chỉ bảo hướng dẫn, phải
tự ṃ mẫm. Trong Lục Diệu Pháp Môn, đầu tiên
là Sổ tức, kế đó là Tùy tức, rồi Chỉ,
Quán, Hoàn, Tịnh. Sổ tức là đếm hơi
thở, tôi làm tốt, qua Tùy tức là theo hơi thở vô
ra tôi làm cũng được. Nhưng đến Chỉ,
chỉ là dừng, trong đó dạy phải dừng ở
trán hoặc ở đầu mũi, hoặc dừng
chỗ quả tim nơi ngực, hoặc dừng ở rún.
Khi tôi dùng pháp “Chỉ”, tôi dừng ở trán th́ nhức
đầu, tôi dừng ở ngực th́ nghe nhói tim, tôi
dừng ở rún th́ buồn ngủ. Dừng chỗ nào
cũng không được, thành ra tới Chỉ th́ tôi
bế tắc không làm sao tu được. Thật là
khổ! Tôi quyết tu, mà chặng một chặng hai tôi
bước qua được nhưng đến chặng
ba th́ bị bế tắc. Không biết làm sao, tôi bèn
chuyển qua Ngũ Đ́nh Tâm Quán tức là năm pháp quán
để dừng vọng tâm, gồm có: Quán bất
tịnh, quán từ bi v.v... tôi sử dụng pháp quán thân
bất tịnh, quán cho đến nó hoại ra. Sách dạy
quán thân bất tịnh đến khi nào nhớ tới thân,
ḿnh cảm thấy rợn người, chịu không
nổi muốn ụa mửa, là thành công quán bất
tịnh. Nếu ngay đó mà tiếp tục quán nữa th́
chịu không nổi, chán quá rồi có thể tự tử
hoặc mượn người khác cắt cổ giùm,
chớ không mang nổi cái thây ma này nữa.
Khi xưa có một lần
đức Phật dạy một số Tỳ-kheo quán
bất tịnh. Các ngài tu quán bất tịnh đến
thuần thục, gớm thân chịu không nổi, nên
mượn người khác làm ơn chặt đầu
giùm, bao nhiêu y bát xin cúng dường lại. Ông đó
giết giùm một lúc mấy mươi thầy
Tỳ-kheo. Sau đó, đến ngày tụng giới,
họp chúng lại, Phật thấy số thầy
Tỳ-kheo sao thưa thớt, c̣n ít quá, mới hỏi lư do.
Khi biết các thầy mượn người ta chặt
đầu giùm, Phật mới quở: Ta dạy các ông quán
bất tịnh để trị bệnh tham dục,
chớ không phải quán bất tịnh để mà tự
tử, như vậy là sai rồi. Phật bảo sau khi
quán bất tịnh thành tựu rồi, tức là nhớ
tới thân ḿnh th́ gớm đến rởn óc, th́ phải
trở qua quán tịnh. Pháp quán tịnh dạy: Tưởng
như ḿnh xẻ da thịt ra một lằn thấy
xương trắng (chớ không phải lấy dao xẻ)
ḿnh tưởng nó từ là xương trắng mờ
mờ, rồi lần lần nó trắng ra cho đến
chừng nào nó phát quang là thành tựu quán tịnh.
Sau khi quán bất tịnh
rồi, tôi áp dụng pháp quán tịnh. Tôi tưởng
xẻ da thịt ra, rồi tôi quán, sao đau đầu quá,
chịu không nổi tôi ngừng. Kế tôi chẻ thêm
chỗ khác và quán nữa, đầu tôi nóng và nhức,
chịu không nổi. Tôi lại chẻ dưới ngực
để quán, nhưng quán
đến đâu th́ đau đến đó, chịu không
được, nên ngang đó tôi bị bế tắc. Bế
tắc từ Lục Diệu Pháp Môn đến quán bất
tịnh, tôi khi ấy cứ ḷng ṿng loanh quanh, không biết
đường mà đi, tiến không được,
thối cũng không xong. Đời tu của tôi cảm
thấy gần như cùng đường rồi.
Tôi mới đọc qua
“Tham Thiền Yếu Chỉ” của ngài Hư Vân, trong
ấy có nói về Tu Thoại Đầu. Tôi liền áp
dụng ngay quán thoại đầu, tôi dùng câu:
“Trước khi cha mẹ chưa sanh ḿnh là ǵ?” và quán măi câu
này. Ban đầu đề lên được, một hôm
tôi đề, đề hoài nó không lên, tôi không biết làm
sao, tiến tới cũng không được mà lui lại
cũng không xong. Như vậy mới thấy đời tu
ḿnh không có thầy, không có người hướng dẫn
thật là khổ vô cùng. Có thể nói gần như tôi
bị tới chỗ bế tắc. Tôi chỉ mong
ước làm sao biết tu Thiền, pháp Thiền nào
cũng được miễn là biết tu Thiền là
được rồi. Nhưng tôi tu pháp Thiền nào
cũng không xong, coi như đời tu của ḿnh không có
kết quả! Xoay qua trở lại từ pháp này sang pháp
kia chạy ṿng quanh măi, nhưng tôi gan, nói tu là tu, tất
cả ba tạng Kinh đều để trong tủ khoá
lại không giở ra đọc cũng không coi một cái
ǵ, chỉ c̣n một chuyện tu thôi, tôi cắm đầu
miệt mài tu, mà sao cứ lúng túng loanh quanh măi. Buồn quá
tôi lạy sám hối và khóc với Phật: “Kiếp
trước không biết con bị nghiệp chướng
ǵ mà sao tu hành không ra ǵ hết!” Mỗi khi buồn là tôi
lạy Phật sám hối. Tôi sám hối đơn giản
lắm không có bài bản ǵ. Tôi qú xuống lạy Phật:
“Con bị nghiệp chướng sâu dày nên việc tu hành
thối chuyển, xin Phật thương gia hộ cho con,
có nghiệp chướng ǵ con xin sám hối.” Lạy
Phật và khóc với Phật, trong bụng nghĩ sao tôi thật
thà thưa như vậy. V́ thế mà Phật thương,
bất thần một đêm tôi ngồi thiền bỗng
dưng tự tôi sáng được lư Thiền. Khi sáng
được lư Thiền th́ tất cả những câu
trong kinh Kim Cang hay kinh Pháp Hoa hồi xưa học tôi bị
bế tắc, bỗng dưng tôi hiểu hết, hiểu
một cách dễ dàng như có ai dạy sẵn ḿnh vậy.
Tôi lấy làm lạ quá, tôi chưa tin tôi, tôi mới mở
tạng Kinh ra đọc, đến những bộ nói
về Thiền khi xưa tôi không hiểu, bây giờ
đọc tới đâu tôi hiểu tới đó, hiểu
một cách say sưa thích thú. Tôi mới thấy thật là
chuyện bất ngờ cho nên tôi cười, cười
tới ba bữa, cười hoài, cười một ḿnh
thôi. Điều ḿnh thật khổ công t́m, t́m không ra, bây
giờ bất thần t́m thấy được quá
mừng nên đi đứng nằm ngồi ǵ tôi cũng
cười, cười hoài đến ba hôm. Mở
Tạng Kinh ra tôi đọc lại sử các Thiền
sư tôi hiểu được ngay. Thế là Tam Bảo
đă ưu đăi tôi quá rồi, nếu không th́ tôi đă
chết trong thất không làm được ǵ. Đây là
một sự ưu đăi rất trọng hậu chưa
bao giờ có ai được cơ hội tốt như
tôi. Không thầy không bạn, ṃ mẫm không ra rồi ráng tu,
tự nó sáng ra, hiểu được những
điều mà trước kia tôi chưa từng hiểu.
Tôi thuộc người
không kín đáo nên biết cái ǵ th́ phải nói không có giấu
giếm, việc này hay quá tại sao ḿnh để nghi
ngờ hoài cho uổng, ḿnh phải nói ra cho mọi người
cùng hiểu mới được. Lẽ ra tôi phải
để năm năm mười năm để nuôi
dưỡng thánh thai th́ mới tới chỗ diệu
dụng. Nhưng v́ hiểu được, mừng quá nên
tôi chuẩn bị mở cửa thất, rồi mở
lớp dạy thiền...
Nói tóm lại đời tu
của tôi gặp được nhiều ưu đăi:
Ưu đăi số một là tôi vào chùa đúng chỗ, ưu
đăi số hai là tôi muốn có Tạng Kinh liền
đượïc Tạng Kinh, ưu đăi số ba là tôi
muốn dạy Tăng Ni để đền ơn giáo
dục của Thầy Tổ th́ tôi được dạy.
Đến cái ưu đăi thứ tư này tôi muốn tu
thiền mà không có người chỉ dạy, chỉ
biết ṃ mẫm một ḿnh, bỗng dưng sáng
đạo, như vậy nếu không phải Tam Bảo gia
hộ ưu đăi tôi, th́ là ai?
Từ khi tôi thấy
được cái hay (ánh sáng đạo) tôi bắt
đầu dịch những quyển Kinh và Sử, mà khi
xưa tôi đọc tôi không hiểu ǵ. Dịch ra th́
phải dạy, nếu chỉ đưa sách đă dịch
ra cho người đọc, th́ chắc không ai hiểu ǵ.
V́ thế tôi mới tuyên bố chuẩn bị mở khoá
thứ nhất dạy thiền. Tuy vậy tôi lại dè
dặt, nghe người ta nói tu thiền điên, tôi chưa
điên là may, nếu chỉ người khác tu mà điên th́
làm sao? Tôi rất quí trọng mạng người, nếu
việc làm nào của tôi không có lợi được cho
người th́ thôi, chớ tôi không dám làm ǵ hại
người, đó là câu thệ nguyện của tôi ngay lúc
c̣n là cư sĩ chưa biết đạo. Tôi tự phát
nguyện như thế này: “Đời tôi nếu không có
thể làm được một viên linh đơn cứu
tất cả mạng sống của người, th́ ít ra
cũng làm một viên thuốc bổ để cho
người bớt khổ.” Có lời nguyện như
vậy, nên tôi không bao giờ nỡ để cho ai khổ
v́ tôi, cho nên khi thấy được cái hay tôi không thể
nào giấu được, không thể im lặng
được nên mới mở khoá dạy tu thiền.
Để ngừa việc điên có thể xảy ra, trong
khoá đầu tôi chỉ chọn mười người
thôi. Qua ba năm thấy không có ai điên, nên khoá thứ hai
tôi mở ra ba chỗ: Chân Không, Linh Quang (ở Cát Lở -
Vũng Tàu), và Bát-nhă trên núi, dành cho bên Ni. Tôi dạy một
lượt ba nơi, qua ba năm trả nợ xong th́ tôi
nghỉ. Dạy ba nơi, ít ra cũng được sáu
mươi người hiểu, họ nói thay cho ḿnh th́ tôi
nghỉ. V́ vậy tôi tuyên bố dạy hết khoá hai là tôi
nghỉ. Nhưng không biết đây là họa hay là
phước, khoá hai bắt đầu năm 1974,
đến năm 1975 mới được nửa khóa th́
bất an. Mấy năm trước, khi tu trên núi th́ có thí
chủ lo, nay phải tự túc th́ đất núi khô cằn,
làm sao tự túc? Bây giờ phải làm sao? - À, phải
xuống núi. Thầy tṛ mới dắt nhau xuống núi làm
ruộng làm rẫy. Đa số trong chúng đây không
biết làm đất, nên tôi phải đứng ra
hướng dẫn làm ruộng làm rẫy cho có ăn. V́
hoàn cảnh đă lỡ bày ra
tôi phải làm sao cho trọn vẹn đến nơi
đến chốn, tôi phải ăn ở có thủy có
chung cho tṛn bản nguyện. Gặp việc khó khăn tôi
không đành bỏ mặc, ai làm ǵ th́ làm.
Lẽ ra tôi được
nghỉ năm 1976, nhưng đến bây giờ là năm
1992, mười mấy năm qua rồi tôi vẫn cưu
mang buông không được. V́ buông ra th́ chắc rằng
kẻ chạy ngược người chạy xuôi, kẻ
đi Đông người đi Tây, không làm sao ngồi
một chỗ để yên tu, cho nên tôi phải cưu mang.
Tăng th́ ở Thường Chiếu, Ni th́ vào Viên
Chiếu, cuốc rẫy trồng khoai. Lần lượt
ngày qua ngày, việc làm thấy như là thiệt tḥi,
nhưng nhờ cực khổ nên chư Tăng Ni lúc đó
có kinh nghiệm, trong việc tu hành ít có thối
Bồ-đề tâm. Gần đây được nhàn
hạ một chút, đa số người tu hơi lôi
thôi, có điều ǵ buồn hay khó th́ muốn khăn gói ra
đi. Khi trước nhờ cảnh khó nên ai nấy
luyện được ư chí chịu cực chịu
khổ, không có nản ḷng, gặp cảnh khó không thối
tâm, gặp điều ǵ buồn cũng cố gắng
chết sống với con đường tu của ḿnh.
Đến khi xuống núi,
tức năm 1986, tôi thầm nghĩ dạy thêm một khoá
độ năm mươi Tăng rồi nghỉ là
đủ trả nợ rồi. Bên Ni th́ dư số
đó. Khi xưa chương tŕnh tu là ba năm, bây giờ
kéo dài từ 1986 đến nay (1992) là sáu năm, thời
gian gấp đôi. V́ ở trên núi học nhiều hành
nhiều mà lao động ít, c̣n về đây th́ lao
động nhiều mà học ít, hành ít nên thời gian
phải gấp đôi. Như vậy tôi mơ ước
bên Tăng được chừng năm mươi
vị, c̣n bên Ni nhiều lắm là một trăm, mà nay bên
Tăng đến một trăm và bên Ni đến ba, bốn
trăm, tôi mong muốn một mà thành hai thành ba. Thế th́
nếu không phải Tam Bảo gia hộ, làm sao tôi làm
được việc này.
Như vậy những
điều ǵ tôi mong muốn, Tam Bảo đều cho tôi
măn nguyện trội gấp mấy lần điều tôi
ước muốn.
Ngoài ra trong đời tu,
tôi c̣n những sở nguyện nhỏ nữa cũng
được thành tựu. Như khi học kinh Phật và
học Sử, tôi thấy hiện tại ở bên Nam tông
th́ Phật giáo Tích Lan là ṛng rặc nhất và tiến
bộ hơn các nước khác, ở bên Bắc tông th́
Phật giáo Nhật Bản là thịnh hành và vững vàng
hơn cả. V́ vậy tôi mơ ước có cơ hội
được qua Ấn Độ chiêm bái những thánh
tích của Phật, biết rơ nơi đức Phật
sanh ra, thành đạo và nhập Niết-bàn, biết rơ không
nghi để hướng dẫn Tăng Ni sau này. Và tôi
mơ ước được đi Tích Lan và Nhật
Bản để học hỏi những điều hay của
các nước đó. Thế là đến năm 1966, tôi
được đi Ấn Độ hai mươi ngày,
qua Tích Lan một tuần, rồi sau đó tôi qua Nhật
Bản ở được hai mươi ngày... thành
thử những điều tôi ước muốn
đều được toại nguyện. Nếu sau này
tôi có đi viếng thêm nơi này nơi khác đó là quá ư
muốn của tôi. Tôi luôn luôn được phước,
muốn ít mà được nhiều. Bây giờ tôi chưa
dám nghĩ sẽ đi đâu v́ tôi chưa nguyện
trước, đến lúc đó th́ sẽ tùy duyên.
Hiện giờ quí vị có
biết tôi muốn cái ǵ nữa hay không? Tôi không muốn ǵ
hơn là làm Người Vô Sự. V́ thế tôi giao hết
mọi việc lại cho quí vị kể từ ngày
mồng hai Tết về sau. Tôi làm người vô sự,
đi đâu th́ đi, ở đâu th́ ở, ưng đi
th́ đi, ưng về th́ về, không có hẹn
trước ngày nào đi ngày nào về, đột ngột
bất ngờ, cho có tự do một chút. Tỉ dụ
như đi từ thất đến chánh điện, có
người bưng cái khay đi trước, ḿnh phải
đi ngay thẳng đường lối, không dám đi
quanh co, mất hết tự do. Nếu có tự do, muốn
đi th́ đi, muốn ghé đâu th́ ghé, mệt ngồi
xuống lề nghỉ, khỏe đứng dậy đi.
Đó là điều tôi mơ ước hiện giờ,
mơ ước được làm người vô sự
thảnh thơi, mà tôi chưa biết làm được bao
lâu. Thật là Tam Bảo đă gia hộ tôi quá nhiều.
Chính ngày xưa tôi không tin được giáo lư Đại
thừa, nhưng bây giờ tôi lại tin sâu hơn ai
hết, tôi tin một cách chắc chắn rằng: Giáo lư
Đại thừa là những ḥn ngọc quí mà người
ta không thấy được.
Tại sao tôi tin
được giáo lư Đại thừa? Tại sao tôi tin
được Thiền tông?
Sau khi nhận hiểu
rồi, tôi mới cảm thông được chỗ
đức Phật ngồi dưới cội
bồ-đề. Trước kia Ngài đă từng đi
học với những tu sĩ nổi tiếng
đương thời đă chứng đạo quả.
Tuy nhiên, khi học Ngài thấy chỗ sở đắc
của những vị đó chưa thỏa măn sở nguyện
của Ngài, tức là chưa có giải thoát sanh tử. V́
thế Ngài bỏ đi, cuối cùng Ngài ngồi tọa
thiền dưới cội bồ-đề. Toạ
thiền tức là lóng lặng nội tâm, nghĩa là tâm không
c̣n xao động, không c̣n dấy niệm th́ mới
được định. Từ khi Ngài tọa thiền
được định rồi, bỗng dưng đêm
mùng tám tháng chạp Ngài giác ngộ. Giác ngộ tức là
thấy rơ được manh mối nào khiến con
người phải đi vào đường sanh tử, và
làm cách ǵ cắt đứt được ḍng sanh tử
để giải thoát, gọi là giải thoát sanh tử.
Thấy rơ ràng không c̣n nghi ngờ, và thấy luôn cả
những ǵ gần xa nhỏ lớn Ngài đều thấy
hết biết hết. Ngài tuyên bố rằng: Ngài giác
ngộ thành đạo là tự Ngài phát ra chớ không có ai
dạy, cho nên Ngài nói Ngài học đạo không có thầy.
Nói học đạo không thầy, thật khó hiểu quá,
người ta học có thầy, tại sao Ngài học không
thầy? Nhưng chính sự thật là Ngài học
đạo không thầy, chỉ tâm Ngài an định
rồi trí tuệ phát sáng. Từ chỗ đó tôi nhớ lại
trong khi tôi đang loanh quanh lẩn quẩn không ai khai sáng
giùm tôi, rồi tự tôi ráng ngồi thiền, tâm tôi
được phần nào yên tĩnh, tự nó sáng ra.
Như vậy tôi tu có thầy không? Cũng không có thầy.
Tôi mới thấy rơ chỗ đức Phật giác ngộ
không thầy, mà ḿnh bây giờ cũng tự sáng lên
được. V́ thế tôi tin được Kinh
điển Đại thừa, Kinh điển Đại
thừa luôn luôn nói rằng: Tất cả chúng ta đều
có tánh giác, tức là Phật tánh. Tánh giác đó đang
bị vô minh che phủ, nếu màn vô minh thưa mỏng th́
tánh giác hiện ra. Nếu không có tánh giác th́ làm sao ngộ?
Nếu không có tánh giác th́ làm sao bỗng dưng sáng
được lẽ đó. Trong nhà Thiền gọi đó
là Vô sư trí, tức là trí không có thầy. Hiểu được
Vô sư trí hay là Tánh giác rồi th́ thấy tất cả
Kinh điển Đại thừa đều chỉ cái
đó, bao nhiêu Kinh điển Đại thừa cũng
đều xoay quanh trọng tâm đó. Cho nên trong kinh
thường nói: nhất thật tướng ấn,
tức là chỉ có tâm thể chân thật là duy nhất,
như trong kinh Pháp Hoa nói: Chỉ có một Phật thừa,
nếu nói có hai có ba là không đúng. Thế nên nếu chúng ta
nhận được lẽ đó rồi th́ đọc
bao nhiêu Kinh điển Đại thừa chúng ta
đều thấy trùng hợp không sai khác. Rồi từ
đó tôi mới tin sâu Kinh điển Đại thừa và
tôi thấy thật là hay đáo để, tôi mới đem
Kinh điển Đại thừa ra giảng dạy.
Thật ra khi xưa tôi học tôi không tin, th́ làm sao tôi
hiểu, nếu hiểu được tức tôi đă tin
rồi.
Như vậy kinh
Đại thừa tôi không hiểu, thiền tôi cũng không
biết nhưng tôi cố gắng tu cố gắng học,
rồi tự nó sáng ra được, hiểu được
kinh, biết được thiền, tất cả
đều do tâm yên tịnh rồi nó phát ra. Nếu không có
trí vô sư làm ǵ có được điều đó. Như
vậy chúng ta mới hiểu được đức
Phật ngồi yên tịnh, Ngài giác ngộ. Hiểu
được điều đó rồi th́ mọi việc
chung quanh ḿnh hiểu hết không c̣n nghi ngờ.
Giáo lư Đại thừa
ngày xưa không hiểu mà ngày nay chúng tôi hiểu
được, cũng không phải là do thầy dạy.
Nếu thầy dạy th́ khi xưa tôi hiểu tôi tin
rồi, mà khi xưa tôi không tin, tức là thầy dạy
cũng dạy văn tựï thôi, c̣n chỗ thật tôi
cũng chưa nhận được. Sau này qua kinh
nghiệm bản thân, qua cái thấy được, cái
nhận được nơi ḿnh, tôi mới tin
được Kinh điển Đại thừa. Qua kinh
nghiệm bản thân tôi mới tin đức Phật
ngồi dưới cội bồ-đề thành Phật.
Tôi tin được điều đó thật là rơ ràng
không c̣n nghi ngờ ǵ nữa. Cho nên sau này tôi giảng kinh tôi
cười hoài v́ tôi thấy hay quá, thật là thích thú. Khi
xưa tôi có làm bài thơ “Người Mù”, (rất tiếc
là tôi đă quên) tả hoàn cảnh người quờ
quạng đụng tấm vách này, đụng tấm vách
kia, u đầu xể trán mà không biết đường
ra, v́ không thấy đường. Khi ḿnh thấy
được rồi, thật là mừng, mới thấy
Phật pháp thật là hay đáo để và chúng ta là
đại phước đức mới được
ở trong nhà Phật pháp. Những điều Phật nói
là một lẽ thật, không có chỗ nào là không thật,
nhưng v́ ḿnh không biết nên mới nghi ngờ. Thí dụ
kinh nói: tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, th́
quí vị có nghi ngờ không? Ḿnh thấy Phật tánh bao
giờ đâu, nói ḿnh có mà ḿnh không thấy cũng như
không có. Nhưng khi có tu rồi, chúng ta mới thấy rơ ràng
ḿnh có, cho nên mới phát ra, nếu không có làm sao phát ra?
Thế rồi tôi tin lời Phật nói tất cả chúng
sanh đều sẽ thành Phật. Tại sao tôi dám
khẳng định như vậy? V́ đức Phật
cũng là chúng sanh.
Khi xưa tôi học Kinh
điển Đại thừa nói đức Phật
mười chín tuổi xuất gia tôi chấp nhận. Kinh
Nguyên thủy nói đức Phật hai mươi chín
tuổi xuất gia tôi không đồng ư, v́ sao? V́ Ngài ở
trong cung lâu quá, hưởng dục lạc rất nhiều,
thấy Ngài sao tầm thường quá mà đi xuất gia
mau thành Phật, nên tôi không chấp nhận. Nhưng bây
giờ tôi lại khen Ngài. Hai mươi chín tuổi
xuất gia tức là hợp lư, Ngài có đến mấy
người con. Tại sao tôi khen Ngài? V́ Ngài là con
người, khi c̣n ở trong cảnh thế gian Ngài
cũng như mọi người thế gian không hơn
không kém, Ngài cũng hưởng dục lạc, có nhiều
vợ có nhiều con. Mới nh́n qua thấy Ngài sống
hết sức là tầm thường. Nhưng chính từ
cái tầm thường đó Ngài tu Ngài giác ngộ. Từ
một con người rất là b́nh thường như
chúng ta, Ngài giác ngộ và thành Phật, cũng như mầm
sen ở dưới bùn, trồi lên thành một đóa hoa
nên luôn luôn để Ngài ngự trên ṭa sen là hết sức
hợp lư. Từ một con người như chúng ta, Ngài
tu thành Phật th́ chúng ta hiện giờ cũng là những
con người tầm thường nếu chúng ta ráng tu
như Ngài th́ nhất định cũng thành. Nếu đức
Phật từ trên trời rơi xuống, thanh tịnh sáng
suốt hơn tất cả thiên hạ, th́ chúng ta mới
vô phần.
Đức Phật là con
người ban đầu rất là b́nh thường,
nhưng v́ có Phật tánh, Ngài khéo dẹp trừ vô minh
để Phật tánh sáng ra th́ Ngài thành Phật. Chúng ta
cũng có Phật tánh, tuy ở trong cảnh phàm tục,
nhưng nếu biết tu th́ chúng ta cũng giác ngộ,
điều đó không nghi ngờ. V́ chúng ta có sẵn tánh
giác nên khui trúng chỗ th́ nó phát sáng ra. Nếu không có sẵn
tánh giác, khui mấy cũng không sáng nổi. V́ có sẵn tánh
giác, nên ai khéo tu th́ cũng có thể giác ngộ
được; nh́n lại Kinh điển Đại
thừa, tôi thấy điều này rất là rơ ràng.
Tuy nhiên trong kinh A-hàm
đức Phật nói rằng ngài
Đề-bà-đạt-đa không có một chút thiện cho
nên nhất định phải đọa địa
ngục. Rồi sau này tôi cũng đọc kinh A-hàm trong
một bài đức Phật nói rằng:
Đề-bà-đạt-đa tuy bây giờ đọa
địa ngục nhưng sau này sẽ hết nghiệp
chướng, được tu, rồi cũng sẽ
được chứng quả thành Phật. Thế nên
chúng ta thấy một người làm tội lỗi tuy
rằng hiện tại rất khổ, nhưng v́ có sẵn
hạt giống lành nên sau khi trả hết nghiệp,
cũng có duyên trở lại tu, rồi sẽ thành Phật.
V́ vậy bây giờ tôi cởi mở hơn khi xưa
nhiều. Khi xưa ai tu nửa chừng rồi ra
đời, tôi ghét lắm v́ không làm đến nơi
đến chốn uổng một đời tu. Nhưng
bây giờ tôi lại cảm thông, v́ khi ra đời trả
hết nghiệp, họ trở lại tu nữa, rồi có
ngày cũng thành Phật, tuy hơi muộn hơi lâu một
chút. Chỉ cần cho họ tu, họ cần xuất gia
thọ giới th́ cho xuất gia thọ giới. Nếu
bị trần duyên trói buộc th́ họ trở lại
đời. Nếu giẫy giụa thoát khỏi th́ họ
trở lại tu. Hột giống gieo rồi th́ không có
mất, Phật dạy rất rơ như vậy.
Qua những điều tôi
vừa kể, quí vị thấy những ước
nguyện của tôi đều thành tựu mà thành gấp
bội phần. Như vậy Tam Bảo đă gia hộ và
ưu đăi tôi tối đa. Tôi tin sâu rằng Tam Bảo
không bao giờ bỏ những người quyết chí tu
hành. Tôi thường nói với chư Tăng: Chỉ
sợ không tu chớ đừng lo Tam Bảo không gia hộ
ḿnh. Trong kinh thường nói: Chúng sanh bỏ Phật,
chớ Phật không bỏ chúng sanh. V́ chúng ta không chịu tu
nên bỏ Phật, chớ Phật không lúc nào bỏ chúng ta.
Chúng ta tin sâu Tam Bảo, rồi tất cả Phật
sự sẽ được viên măn. Những người không
có ḷng tin mới bị Tam Bảo bỏ rơi. Chữ “tin”
ở đây là do ḿnh nhận chân được lẽ
thật rồi ḿnh tin, chớ không phải tin bằng cách
cúng lạy rồi Tam Bảo gia hộ. Chúng ta có nhiệt
t́nh đối với đạo, chúng ta có nhiệt t́nh trên
đường tu hành th́ chúng ta sẽ được Tam
Bảo gia hộ chớ không có bỏ sót.
Đến những cái khó
của tôi trong khi làm Phật sự.
Khóa thứ nhất ở
Chân Không chúng tôi có được mười Tăng sinh,
con số khiêm nhường như vậy tưởng
đâu dạy trọn ba năm ít ra cũng được
đủ mười người. Không ngờ dạy
mới có ba tháng th́ có ba vị: Thiện Ấn, Thiện
Năng và Thông Lạc rủ nhau ra đi. Rồi đến
Đắc Huyền cũng bắt chước chạy
theo. Khóa học mười người mới có ba tháng mà
rút đi hết bốn người, nếu không có can
đảm th́ cũng mất tinh thần nhiều lắm.
Tuy nhiên tôi đă học được ở Ḥa
thượng Viện trưởng Thầy tôi, Ngài nói: Tôi
dạy lớp học ba mươi, bốn mươi
người, dù lớp học c̣n một, hai người,
tôi cũng dạy. Theo gương đó, tôi nói c̣n mấy
chú tôi dạy mấy chú, nhất định măn ba năm
mới thôi. Kế một, hai tuần sau Đắc
Huyền trở về sám hối, đến Thiện
Năng vài ba tháng sau cũng về sám hối. Bốn
người ra đi th́ hai người trở về, c̣n
hai người th́ đi luôn, một người về
Trảng Bàng tu, một người th́ ra đời có hai,
ba đứa con. Quí vị thấy làm Phật sự đâu
phải lúc nào cũng đều như nguyện, có
những trục trặc mà ḿnh phải lập chí, phải
cương quyết làm đến nơi cho tṛn.
Khóa học thứ hai th́ có
những khó khăn ở nội bộ. Cuộc sống
đang lỉnh kỉnh bất ổn, Tăng Ni sinh
phải lo tự túc th́ Định Huệ bất thần
kiếm chuyện rút lui làm rộn cho tôi. Đến chuyến
chót này, năm ngoái đây Như Thủy làm rối ren
một lúc. Như vậy cái ǵ thành công đâu phải có
một chiều, có những trục trặc bên trong chớ
không phải lúc nào cũng xuôi thuận. Đó là ba chặng
khó trong nội bộ mà tôi phải trải qua.
Song chủ trương của
tôi là định làm việc ǵ th́ phải làm đến
nơi đến chốn, khi nào xong mới thôi. Gặp khó
khăn tôi lại cương quyết phải duy tŕ, tôi
phải trải thân ra lo. Khi nào thấy dễ tôi mới
buông, buông mà vẫn tu được, tôi không ngại, tôi
dám buông. V́ vậy mà qua những cái khó.
C̣n có cái khó của ngoại
cảnh. Thiền viện ở trên núi nhờ quí Phật
tử ủng hộ nên Tăng sinh làm công tác mỗi ngày hai
tiếng đồng hồ tượng trưng thôi cho có
sức khỏe, chớ không đặt thành vấn
đề tự túc. Trong bản Thanh qui ban đầu, tôi nói chủ trương của
chúng tôi là nhờ Phật tử giúp đỡ để cho
Tăng Ni tu hành chớ không có làm kinh tế tự túc.
Nhưng rồi hoàn cảnh đổi thay, tức nhiên Thanh
qui cũng phải đổi thay. Tăng Ni không thể
trông cậy vào Phật tử nữa, mà phải chuyển
qua tự túc, đó là vấn đề cay đắng chớ
không phải đơn giản. Làm sao nuôi dưỡng
được tinh thần hăng hái tu, hăng hái lao
động của Tăng Ni? Cho nên lúc đó tôi mới cho
họ dùng những bài ca bài hát ở ngoài đồng
để họ đỡ buồn, nếu bắt làm
việc cực quá chai tay rồi ai cũng chán. V́ vậy có
nhiều người nói tôi sao dễ quá, Thiền viện
ǵ mà ca hát om ṣm. Nếu bắt Tăng Ni đi cuốc
cả ngày mà không cho vui một chút th́ làm sao làm nổi,
nhưng ca hát những bài đạo lư chớ không phải
nói việc tầm thường thế gian. Bây giờ th́
tôi cấm ca hát, v́ hiện nay phương tiện sống
cũng tương đối đủ, Tăng Ni làm
cũng vừa phải, không có cực lắm th́ đâu
cần vui, vừa làm vừa tu trong yên lặng, đâu
cần ǵ phải ca hát.
Đời tu của tôi có
những cái dễ nhưng cũng gặp những cái khó.
Trong cái khó thật ra tôi không tính toán cũng không suy nghĩ
phải làm sao, tôi chỉ âm thầm xin Tam Bảo gia hộ.
Ai làm ǵ nói ǵ, tôi cứ lặng thinh mà chịu chờ Tam
Bảo gia hộ, rồi cái tốt đẹp sẽ đến,
tôi không có phản ứng để chống chọi ǵ
hết. Điều quan trọng của người tu không
phải ở chỗ khôn lanh xảo trá, mà ở chỗ chân
thật biết tu. Chúng ta khôn trong đạo đức
chớ không nên khôn trong mưu mẹo thế gian. Thế nên
tôi mong rằng tất cả quí vị cố gắng tập làm sao giữ
được tư cách một người tu là một
người chân thật. Trong kinh Duy-ma-cật có câu:
“trực tâm thị đạo tràng” nghĩa là tâm ngay
thẳng là đạo tràng. Đừng nghĩ rằng ḿnh
phải dùng nhiều xảo thuật để có
phương tiện, có tiền, hay để thu hút nhân tâm,
chỉ cần ḿnh chân thành đối với tất cả
Tăng Ni và Phật tử.
Tôi thường nói với ḷng chân thành: “Tôi là kẻ nợ
của Tăng Ni, nhưng ai đ̣i th́ tôi trả, ai chưa
đ̣i th́ tôi hẹn.” Bởi sức ḿnh hữu hạn,
trả nợ một lượt không kham, ai đ̣i sớm
th́ trả sớm, ai chưa đ̣i th́ để dành đó sẽ trả sau. Tôi
thấy tôi là kẻ nợ, chớù không phải là
người ban ơn ban phúc cho ai hết. Mắc nợ,
bổn phận tôi phải trả, tôi không nghĩ tôi ban ơn cho người này, giúp
đỡ người kia rồi bắt họ nhớ ơn
tôi. Tôi nói như vậy với tất cả ḷng chân thành
của tôi. Và nhân ḷng chân thành đó Tăng Ni cảm thông và
thương mến tôi, chớ tôi không có xảo thuật
riêng để thu hút người. Ai tới cũng vậy,
đạo lư thế nào tôi nói thế ấy, không có ư riêng
tư hoặc dỗ dành riêng ai.
Thành thật mà nói, tôi là
một người khó. V́ sao? V́ tôi đặt trách nhiệm
cho tôi quá nặng. Tôi làm hàng rào phía sau Thiền viện, có
nhiều vị mỉa mai nói: tôi giữ mấy ông thầy
c̣n hơn là giữ con gái nữa. Tôi đặt trạm phía
trước tại nhà khách, có thầy Tri khách trông coi,
nếu có ai đi ra th́ báo cáo. Ở phía sau có cửa hậu
để ra ruộng, cửa có ch́a khóa do Trụ tŕ hay Tri
sự giữ không cho lơi lỏng. Chung quanh chùa một
bên có rào, một bên có các bà xuất gia lớn tuổi,
nếu có ai trong Thiền viện đi lông bông bị các bà
báo cáo. Như vậy tôi bố trí đâu đó nghiêm mật,
nếu có điều ǵ tôi liền biết không giấu
giếm tôi được.
Tại sao tôi phải khó?
Tại v́ tôi ở nhiều chùa, nhiều trường
Phật học, tôi thấy, tôi biết. Có nhiều
người phát tâm tu rất tốt, nhưng khi vào chùa
gặp hoàn cảnh không thuận lợi, họ
nhiễm lần lần
rồi trở thành xấu! Lỗi đó tại ai? Có
phải tại người hướng dẫn không khéo
bảo hộ để cho họ phải thối tâm? V́
vậy tôi đặt trách nhiệäm là tôi phải bảo
hộ, nếu ai c̣n ở với tôi ngày nào là tôi phải
bảo hộ họ ngày ấy. Dù tu không được
giải thoát ngay trong hiện tại, ít ra họ cũng là
một vị Tăng thanh tịnh có đức hạnh,
đó là bổn phận của tôi. Khi nào họ ra ngoài
tầm tay tôi th́ tôi hết bổn phận. Thành ra có
nhiều vị ở đây cũng hơi buồn, sao mà
đi đâu cũng bị rầy hoài! Cái khó của tôi là do
trách nhiệm, do bổn phận của tôi phải làm
như vậy. Nếu quí vị ra khỏi đây rồi
thôi, làm ǵ th́ làm tôi không có nói ǵ hết, v́ nó quá tầm tay
của tôi.
Chư Tăng ở đây
giả sử như tu không có tiến một trăm
phần trăm như ư ḿnh muốn, chỉ được
chừng hai mươi, ba mươi phần trăm thôi,
tôi cũng bảo đảm rằng mấy chú cũng
sẽ là Tăng sĩ tốt xứng đáng. Nếu các chú
bỏ đây ra đi th́ có thể tưởng tượng
rằng ḿnh sẽ được một trăm phần
trăm, nhưng thật ra tôi chưa dám tin điều
đó, có thể được mà cũng có thể sẩy
chân bất cứ lúc nào, v́ bên ngoài trơn trợt lắm,
có đủ điều kiện để cho ḿnh sẩy
chân. V́ thế ở đây có ai xin đi, nếu tôi khuyên
đừng đi th́ ngại người khác hiểu
lầm rằng tôi lợi dụng giữ chúng cho đông
để Phật tử cúng dường nhiều, nên ai xin
đi th́ tôi sẵn sàng cho, nhưng đến th́ khó.V́ sao
tôi lại đặt như vậy? V́ tôi cảm thông
với đức Phật. Khi Phật nói kinh Pháp Hoa,
rồi có năm trăm vị Tỳ-kheo thối tịch,
Phật bảo: Thôi hột lép gió bay, c̣n lại hột
chắc. Có chỗ khác Phật nói: ‘‘Thà một ngày hoàn
tục cả năm trăm vị Tăng, c̣n hơn là
ở trong đạo mà phá giới.” Như vậy Phật
chấp nhận cho ra đời chớ không muốn ḿnh
ở trong đạo mà hư hỏng. Cũng thế
những vị đến với tôi th́ rất khó, phải
có điều kiện tôi mới nhận, nhưng khi không
muốn ở th́ tôi sẵn sàng cho đi chớ không có
năn nỉ. Có nhiều chú từ bi hơn tôi, thấy
huynh đệ muốn đi th́ theo khuyên lơn, c̣n tôi th́
gật đầu cho đi. Như vậy người
lớn từ bi hơn hay người nhỏ từ bi
hơn? Mới nh́n h́nh như người nhỏ từ bi
hơn v́ năn nỉ khuyên lơn đừng đi. C̣n tôi
khi thấy một người không muốn ở, ḿnh
cố khuyên, họ có ở lại cũng không
được vui, nếu họ làm điều ǵ sai ḿnh
rầy, họ nói:
“tôi không muốn ở,
tại quí vị xúi giục hay bắt buộc tôi ở”,
cho nên ḿnh rầy không được. C̣n người phát
nguyện ở để tu th́ ḿnh có bổn phận bảo
vệ họ kỳ cùng đến nơi đến
chốn.
Như vậy quí vị
mới thấy người lớn là người mang
một trọng trách nặng nề đối với
người nhỏ, trọng trách đó ḿnh tự thấy
tự đặt ra chớ không có ai bắt buộc. Tự
tôi thấy ḿnh đă tu th́ ḿnh phải lo cho những
người tu, ḿnh đă biết th́ phải giúp cho
những người chưa biết, ḿnh thấy cái hay th́
nói cho người ta cùng thấy. Như vậy trên
đường đạo chúng ta cùng d́u dắt nhau,
chớ không thể âm thầm hưởng cái vui riêng mà không
chia sớt cho người. Lập trường của tôi
là rơ ràng như vậy,
nghĩa là muốn làm sao cho tất cả đều
được an ổn vui tươi.
Đức Phật là
bậc Đạo sư tức là người thầy
dẫn đường, biết đường và đi
trước, chớ không bao giờ thầy dẫn
đường lại đi sau. Bây giờ quí vị
cảm thông cho tôi, khi c̣n ở trên Chân Không, tôi hứa
dạy xong khóa thứ nh́ từ năm 1974 đến
năm 1976, th́ tôi sẽ nghỉ để chuyên tu, v́ tôi
thấy nhưng tôi chưa hành đến nơi đến
chốn. Tôi định nghỉ để tôi hành. Nhưng
duyên không cho phép tôi nghỉ, nên tôi tiếp tục dạy cho
đến ngày nay, th́ trên đầu tôi không c̣n sợi tóc
đen nào, lại thêm bệnh hoạn. Như vậy ngang
đây tôi nghỉ có vừa chưa? - Vừa quá rồi! Tôi
nghỉ không phải để nhàn hạ thảnh thơi,
mà chính là để làm việc khác. Tôi nghỉ việc
giảng dạy giáo hóa Tăng Ni bằng ngôn ngữ văn
tự, nhưng tôi phải làm những việc bằng hành động
và tư cách. Những ngày nghỉ của tôi là những ngày
chuyên tu, tôi phải cắm đầu làm việc đó
để ít ra khi nhắm mắt tôi được tự
chủ năm bảy mươi phần trăm, nếu
chưa được hoàn toàn. Tôi không thể chỉ nói cho
hay rồi tự măn, mà phải làm cho được
những ǵ tôi nói. Đó là trách nhiệm của người
dẫn đường, dẫn đường là phải
đi trước. Tôi khuyên quí vị tu mà tôi không tu th́ làm
sao? Những ǵ tôi thấy tôi đă nói hết để quí
vị ứng dụng tu. Bây giờ tôi phải thực hành
được, để thấy rằng những
điều tôi nói là lẽ thật, nếu quí vị
ứng dụng như vậy th́ sẽ có lợi ích
lớn. Đây là điều thiết yếu chúng tôi
cần phải nêu lên cho quí vị thấy rơ.
Trên đường tu
thời gian rất là quí báu, nếu tôi c̣n sống thêm
năm bảy năm nữa, thời gian đó tôi ứng
dụng thực hành. Khi chưa thấy đường th́
công phu ḿnh đi cứ loanh quanh lẩn quẩn v́ không
biết đâu là mục đích. Nếu thấy
đường rồi th́ công phu của ḿnh dù không tới
đích ít ra cũng tiến được khá dài. Thế
nên khi tôi buông mọi việc coi như tôi thảnh thơi,
nhưng thật ra muốn làm người vô sự không
phải là dễ, làm người đa sự thấy khó mà
dễ, làm người vô sự mới thật là khó. V́
vậy tôi mong rằng thời gian tôi làm người vô
sự, quí vị đừng mang những điều đa
sự đến thưa kiện khiếu nại hay than
van: Từ ngày Thầy đi, Thiền viện chúng con bơ
vơ đói thiếu v.v... Quí vị phải gan dạ
chịu đựng để cho tôi được vô
sự, th́ có lợi cho tôi mà cũng có lợi cho quí vị,
đừng níu kéo làm mất th́ giờ của tôi vô ích. Tôi
buông là buông dứt khoát chớ không có buông nửa chừng,
níu kéo tôi chỉ thêm nhọc nhằn thôi, không có lợi ǵ
cho cả hai bên. Đó là ư tôi muốn nhắc nhở trong
đêm hôm nay.
Đây là buổi Tất
niên chót tôi dự tại Thiền viện Thường
Chiếu. Từ đây về sau tôi không có dự nữa, dù
có mặt ở đây tôi cũng im lặng, vô sự mà! Tôi
chỉ mong sao thời gian làm người vô sự của
tôi kéo dài một chút để tôi đủ thời giờ
làm được kha khá. Trước khi im lặng, tôi mong
rằng tất cả quí vị biết rơ ư và việc làm
của tôi từ thủy chí chung như thế nào, quí
vị rút kinh nghiệm và cảm thông để cho tôi
được yên mà làm một việc rất cầøn thiết
cho đời tu của tôi.
Khi trao gánh nặng lại
cho quí vị lănh đạo các Thiền viện,
điều mong mỏi duy nhất của tôi là tất
cả chúng ta đều thành thật lo cho Phật pháp, và
chân thành thương những người sau chúng ta,
đặt ḿnh là kẻ có trách nhiệm có bổn phận
chớ không phải ḿnh là người ban ơn ban phúc.
Nếu có ai không nghĩ nhớ tới ḿnh th́ thôi, biết
ơn hay không cũng được. Họ đi ngang ḿnh
không chào cũng thôi, không nên bắt lỗi làm chi, cứ làm
hết bổn phận ḿnh là vui. V́ là người mang
nợ, ḿnh trả được nợ là khoẻ thôi,
trả xong nợ là yên ḷng ḿnh. Mong rằng quí vị
hiểu chủ trương này của tôi, và phải
nhớ rơ khi làm Phật sự gặp lúc khó khăn chính là
lúc ḿnh phải giữ vững trách nhiệm. Khi nào dễ,
có người thay ḿnh được khi ấy mới
buông. Đừng thấy khó rồi quăng đi, đó là
người vô trách nhiệm. Hăy chân thành lo cho đạo,
quyết chí tu th́ khó cũng thành dễ, phải có thiện
tâm thiện chí tối đa th́ mọi việc đều
tốt đẹp.
Những điều hay
dở trong cuộc sống của tôi, tôi đă kể ra cho
quí vị nghe, mong rằng tất cả hăy cố gắng
thực hiện được những điều hay và
lợi ích với tinh thần trách nhiệm và ḷng chân thành lo
cho đạo pháp.
]
H̉N NGỌC QUÍ TRONG NÚI LỬA
(Tăng Ni)
Ngày
đầu Xuân tất cả Tăng Ni và Phật tử
về đây để chúc mừng năm mới, nhân
đây chúng tôi nhắc nhở đôi lời để quí
vị có đủ tư lương tiến tu trên
đường giải thoát.