THÍCH THANH TỪ

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

XUÂN TRONG CỬA THIỀN

TẬP  4

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

THƯỜNG CHIẾU

Ấn Tống : PL.2542 -1998

 


LỜI ĐẦU SÁCH

            Nói đến Xuân là nói đến hoa nở, chim hót, ḷng người nô nức đón Xuân. Nhưng Xuân đến rồi đi, hoa nở rồi tàn, Xuân thế tục lệ thuộc thời gian là như vậy... Chỉ có Xuân trong đạo mới vượt khỏi thời gian, mùa Xuân bất tận lúc nào cũng sẵn trong ḷng người tỉnh giác.

             Thế nên hằng năm mỗi độ Xuân về, Thầy chúng tôi, Ḥa thượng Viện trưởng Thiền viện Chân Không, Thường Chiếu và Trúc Lâm, vào đêm Trừ tịch và ngày Tết Nguyên Đán, thường nhắc nhở Tăng Ni và Phật tử kiểm điểm lại việc làm  trong năm qua và sách tấn tất cả nỗ lực tiến tu trong năm mới, để hằng sống mùa Xuân đạo vị:

                        Thương xuân bao nỗi, thương xuân ư,

                        Khi chợt dừng thêu, chẳng thốt lời.

                        (Khả liên vô hạn thương xuân ư,

                        Tận tại đ́nh châm bất ngữ th́.)

                                   (Thiền sư Huyền Quang)

             V́ lợi ích chung, chúng tôi xin phép Ḥa thượng ghi lại những buổi nói chuyện của Người tại Thiền viện Thường Chiếu trong những năm 1990-1991-1992 để tiếp theo quyển "Xuân Trong Cửa Thiền" tập I, tập II và tập III. Lời dạy của Thầy chúng tôi lúc nào cũng b́nh dị, nhưng tha thiết tâm lăo bà, cốt sao cho hàng đệ tử nắm vững đường lối tu hành và có một nếp sống hài ḥa an lạc cho đến ngày viên măn đạo quả.

              Tuy trong các bài pháp có những thơ kệ trùng lặp với những năm trước, song mỗi lần lập lại là mỗi lần mới, mỗi lần đọc lại là mỗi lần thấm thêm ư nghĩa Xuân trong cửa Thiền.

             Chúng tôi cố gắng ghi lại trung thực ư của Ḥa thượng Viện trưởng để cống hiến quí  bạn đọc chút quà mọn nhân buổi đầu Xuân. Chắc khó tránh khỏi những điều sơ sót, mong quí đôïc giả thông cảm bỏ qua cho.

Kính ghi,

Thiền sinh khu Thường Chiếu

Thuần Tịnh- Thuần Chơn

Mùa an cư 1995

?    


TRỌNG TRÁCH NGƯỜI TU PHẬT

TẤT NIÊN KỶ TỴ 1990

            Theo thông lệ hằng năm, vào đêm Trừ tịch, Thiền viện có tổ chức buổi lễ Tất niên. Chư Tăng Ni và Phật tử về đây  chung vui và góp ư kiến xây dựng nhắc nhở nhau tinh tiến tu hành. Đây là dịp chúng ta ôn lại những việâc làm trong năm qua, t́m những điểm khuyết để tu sửa và những điểm ưu để tăng tiến. Tuy chúng ta tùy thế tục nên có buổi liên hoan, nhưng vẫn đi đúng chánh pháp là sách tấn nhau tiến bước trên đường tu giải thoát.

            Giờ đây chúng tôi nêu lên một câu hỏi rất thiết thực: Trọng trách người tu Phật là thế nào? Câu trả lời đầy đủ nhất là trọng trách người tu Phật gồm ba phần: một là Giải thoát, hai là Giác ngộ, ba là Từ bi. Đó là ba điều kiện người tu nào cũng phải có đủ.

            Vậy tất cả Tăng Ni và Phật tử khi phát nguyện tu theo lời Phật dạy, phải thề quyết đập tan xiềng xích sanh tử đă áp đặt trên con người chúng ta từ vô lượng kiếp đến giờ. Đó là giải thoát. Giải thoát sanh tử là một việc làm quá to lớn, người thế gian không bao giờ dám nghĩ đến, v́ họ cho sanh tử là một qui luật không ai thoát khỏi. Nhưng người tu chúng ta khi đă nguyện đă quyết th́ thế nào chúng ta cũng làm được. Chính đức Phật khi xưa đă t́m ra con đường giải thoát khỏi sanh tử, ngày nay chúng ta ư thức được việc đó là chánh đáng, là cao thượng, th́ noi gương Ngài chúng ta cũng quyết đập tan xiềng xích sanh tử cho kỳ được.

            Kế đến chúng ta phải quyết thắp sáng ngọn đuốc trí tuệ trong nhà đen tối vô minh từ vô lượng kiếp, đó là giác ngộ. Thật vậy người  tu muốn giải thoát sanh tử th́ trước phải giác ngộ. Đức Phật ngồi thiền dưới cội bồ-đề và Ngài giác ngộ chứng được tam minh: Túc mạng minh, Thiên nhăn minh và Lậu tận minh. Túc mạng minh là trí tuệ biết rơ vô số kiếp về trước của ḿnh. Thiên nhăn minh, c̣n gọi là sanh tử trí, là trí thấy rơ ràng nguồn gốc sanh tử của chúng sanh. Lậu tận minh là trí tuệ dứt hết các lậu hoặc để giải thoát sanh tử. Như thế chúng ta tu là phải mở sáng mắt trí tuệ để dẹp tan đen tối vô minh .

            Giải thoát và giác ngộ được phần nào, chúng ta không đành ḷng chỉ nhận riêng cho ḿnh mà phải thương, phải nghĩ đến tất cả chúng sanh đang trong nhà vô minh đen tối. Chúng ta phải đem ánh sáng trí tuệ chính ḿnh đă được Phật chỉ dạy để soi rọi khiến cho tất cả cùng thoát ra khỏi cái đen tối muôn đời và cùng tiến đến nơi an lạc. Đây là điều chủ yếu mà tất cả người tu Phật đều phải thực hiện.

            Như vậy trọng trách của người tu Phật nặng hay nhẹ? Phải giải quyết sanh tử, phải thắp sáng ngọn đuốc trí tuệ và phải có ḷng từ bi truyền trao cho người những ǵ ḿnh đă biết để cùng nhau thoát khỏi các khổ đau, trọng trách này quả thật không phải nhẹ. Nếu chúng ta không tu không tiến, th́ dù chúng ta có thương người muốn giúp người cách mấy cũng chỉ là nói suông thôi. Nói rơ hơn nếu chúng ta không giác ngộ và giải thoát được phần nào mà chúng ta muốn giúp mọi người được giác ngộ và giải thoát, th́ cái muốn đó là hăo huyền không thực tế. Vậy muốn thể hiện ḷng từ bi, chúng ta phải có phần nào giác ngộ và giải thoát. Chủ yếu chúng tôi nêu lên là để cho tất cả quí vị thấy rơ trọng trách người tu Phật không đơn giản mà quá to tát, chúng ta không thể xem thường.

            Muốn giải thoát sanh tử, chúng ta cần phải biết gốc của sanh tử là ǵ? Theo pháp Mười hai nhân duyên, Phật dạy gốc của sanh tử là Vô minh. Vô minh là không sáng, tức là tối tăm. Muốn phá tối tăm chúng ta phải thắp sáng ngọn đuốc trí tuệ. Ví dụ như có một căn nhà tối cả ngàn năm, muốn nhà sáng ra chỉ có cách đốt đèn th́ cái tối ngàn năm liền mất. Cũng thế ấy vô minh chỉ mất khi có ánh sáng giác ngộ. Thế nên trọng tâm tu Phật lấy giác ngộ làm bước tiến đến giải thoát. Nếu không giác ngộ th́ mười hai nhân duyên cứ quay cuồng, chúng ta bị đảo lộn trong sanh tử.

            Hiện nay, nương theo giác ngộ của đức Phật chúng ta biết rơ manh mối của sanh tử là vô minh. Vậy vô minh là ǵ? Trong kinh Tạp A-hàm có hai đoạn đức Phật giải  thích như sau:

            Đoạn một:

            Đức Phật dạy: "Không biết rơ sắc tập khởi, sắc đoạn diệt, không biết rơ thọ tưởng hành thức tập khởi, đoạn diệt, đó gọi là vô minh." Nói gọn hơn: Không biết sự tập khởi của năm uẩn và sự đoạn diệt của năm uẩn, đó là vô minh. Vậy năm uẩn là ǵ? Tức là thân này. Ngay nơi thân này sắc uẩn thuộc về vật chất, thọ, tưởng, hành, thức thuộc về tinh thần. Không biết rơ tinh thần và vật chất của thân này gọi là vô minh, không biết rơ sự nhóm họp và sự tan hoại của nó là vô minh. Thế th́ tất cả quí vị ở đây có ai biết rơ thân chúng ta chưa? V́ không biết rơ nó cho nên chúng ta đang vô minh, v́ vô minh nên không dừng được ḍng sanh tử.

            Đoạn hai:

            Có một vị Tỳ-kheo hỏi ngài Xá-lợi-phất: "Thế nào là vô minh?" Ngài đáp: "Không biết khổ, không biết khổ tập, không biết khổ diệt, không biết con đường đưa đến khổ diệt, gọi là vô minh."

            Theo nghĩa ngài Xá-lợi-phất nói, người nào không biết đúng như thật pháp Tứ đế: Khổ tập diệt đạo, đó là người vô minh.

            Như vậy đoạn trên đức Phật giải nghĩa sự tập khởi và sự đoạn diệt của năm uẩn, tức là chỉ thẳng con người. Đoạn này, ngài Xá-lợi-phất nói về Tứ đế. Khổ đế tức là khổ sanh, già, bệnh, chết của thân... Tập đế là nguyên nhân của khổ là tham sân si v.v... Diệt đế và Đạo đế là cách giải trừ khổ để được an vui giải thoát. Đây cũng là chỉ thân tâm này vậy. Tóm lại Phật nói vô minh là không biết như thật bản thân chúng ta từ tinh thần đến vật chất, không biết rơ sự nhóm họp  và sự tan hoại của nó.

            Sau đây tôi  dẫn đến kinh Viên Giác, chương Văn-thù, đức Phật giải thích: "Thế nào là vô minh? Tất cả chúng sanh từ vô thủy đến nay các thứ điên đảo, ví như người nh́n bốn hướng thay đổi; vọng nhận tứ đại làm thân tướng của ḿnh, bóng dáng sáu trần làm tâm tướng của ḿnh, ví như bệnh mắt thấy hoa đốm trong không và mặt trăng thứ hai." Như vậy đức Phật giải nghĩa Vô minh rất rơ. Tất cả chúng sanh từ vô thủy đến nay do các thứ điên đảo, ví như hướng đông lầm cho là hướng tây, hướng nam lầm cho là hướng bắc, lầm bốn hướng như vậy gọi là điên đảo, tức là không thấy đúng như thật. Đức Phật chỉ thẳng điên đảo là do vọng nhận tứ đại làm thân tướng của ḿnh, ư thức duyên theo bóng dáng sáu trần làm tâm tướng của ḿnh. Hiện giờ ai cũng cho thân tứ đại này là thân ḿnh, cho suy nghĩ, tức là ư thức duyên theo bóng dáng sáu trần là tâm ḿnh. Vọng nhận như thế gọi là vô minh, đó là manh mối dẫn chúng ta đi trong luân hồi sanh tử. Thế nên chúng ta tu là phải phá tan manh mối vô minh đó.

            Kế đến đức Phật ví dụ người vọng nhận  như vậy chẳng khác nào người bị bệnh mắt thấy hoa đốm trong hư không. Như  con mắt nhặm thấy trong hư không có đốm sáng rơi loạn tưởng là thật, nhưng đó chỉ do bệnh mắt mà thấy, vậy là thấy không đúng như thật, là tối tăm, là vô minh.

            Đức Phật lại ví dụ thêm, người vọng nhận  như vậy là thấy mặt trăng thứ hai, mặt trăng có cái thứ hai không? Như người nhặm mắt hoặc ấn tay vào mắt th́ thấy mặt trăng có cái thứ hai lóe lên một bên. Mặt trăng thứ hai là giả tướng mà ḿnh lầm cho nó là thật. V́ vậy chúng ta cho thân tứ đại là thân của ḿnh, tâm duyên theo bóng dáng sáu trần là tâm của ḿnh, chấp chặt như thế gọi là vô minh.

            Qua sự giải thích của đức Phật từ kinh A-hàm đến kinh Viên Giác, chúng ta tự kiểm lại xem ḿnh c̣n vô minh sâu hay cạn, dầy hay mỏng? Như thân của chúng ta vừa bị động đến là nổi sân si ngay, hoặc có khi chỉ bị thiếu phần bồi dưỡng cho thân cũng nổi sân rồi. Như vậy vô minh đến mức độ nào? V́ chấp lầm thân tứ đại là ḿnh nên những ǵ thuộc nhu cầu của thân th́ ḿnh xem là quan trọng. V́ quan trọng thân nên vừa kém thua người là ḿnh bực bội buồn khổ. C̣n tâm là ư thức duyên theo bóng dáng sáu trần, đă là bóng th́ đâu có thật, mà ḿnh chấp làm ǵ? Thí dụ như mắt nh́n một cái hoa rồi ư thức đánh giá nó là đẹp, và ḿnh khen hoa đẹp quá. Bỗng người khác nh́n hoa rồi chê hoa xấu quá có ǵ là đẹp. Chỉ bao nhiêu đó thôi cũng đủ làm ḿnh nổi sân lên và căi lại, phải không? Như thế ư thức của chúng ta duyên theo bóng dáng của hoa rồi chấp chặt vào đó, nếu ai nói khác đi là nổi giận liền. Như vậy chứng tỏ mê lầm của chúng ta quá lớn, mê lầm đó Phật gọi là vô minh.

            Do mê lầm nên chúng ta sống trong đau khổ. Phật nói thân này có sanh già bệnh và chết, nếu cho nó là ḿnh thật, đến khi nó tan hoại tức là mất ḿnh th́ c̣n cái khổ nào bằng! Sở dĩ các bậc Thánh nhân và các Thiền sư ngày trước coi cái chết như tṛ chơi v́ các ngài thấy thân là giả dối không quan trọng, nên các ngài cười trước cái chết, dù chết bằng cách nào cũng vậy. Chúng ta th́ khác, v́ thấy thân ḿnh là thật nên nghe nói chết là đă hốt hoảng rồi. Giả sử khi đau nhiều ḿnh cũng tỏ ra can đảm chịu đựng, tỏ ra hiểu đạo không sợ chết, nhưng trong ḷng cũng thấy nao nao. Như vậy để thấy ḿnh chưa thật thấy thân tứ đại là giả, mà thấy nó quả là thật nên khổ đau v́ nó, và mấy ai thoát khỏi mê lầm này? Thế nên người tu chúng ta phải nhận định thật đúng để không c̣n mê lầm nữa. Hết mê lầm tức là giác ngộ, phá tan vô minh lầm chấp về thân và tâm. Phá hai chấp này rồi chúng ta mới giải thoát khỏi sanh tử. Đó là mục tiêu cuối cùng của người tu.

            Tất cả chúng ta đang sống khoẻ mạnh tưởng chừng như ḿnh hiểu đạo và hành đạo được, nhưng khi ngă đau hoặc có những điều bất trắc xảy đến, th́ ḿnh cuống quít lên không c̣n b́nh tĩnh nữa. Hiểu đạo mà không dùng được, không c̣n tự chủ nên đau khổ. Đau khổ của chúng ta không phải ai mang đến mà chính v́ vô minh làm ḿnh đau khổ. Ví như đang đi trong rừng gai góc mà không khéo lau lách nên bị gai quào xể mặt rướm máu rồi than thở cuộc đời sao quá khổ! Nếu đi trong rừng gai mà khéo lau lách ra khỏi rừng không bị trầy da chút nào mới là giỏi, là an vui.

            Vậy trên đường tu chúng ta phải thấy được những điều Phật đă dạy. Có những điều thật hay, mà chúng ta lại xem thường. Nh́n lại thân tứ đại thấy nó quá rơ. Học kinh điển rồi ai cũng nói thân này là giả, tại sao? V́ ḿnh thuộc lời Phật dạy: thân tứ đại là giả. Nếu hỏi giả như thế nào? V́ thân này ngày nay c̣n, nhưng thời gian sau nó hoại. Thật là đúng v́ thân này vô thường nay c̣n, mai mất! Lại có người nói: Thân này do duyên hợp nên giả, mà không biết hợp cách nào và giả cách nào. Nghiền ngẫm cho kỹ chúng tôi thấy được lẽ này: Nói giả không phải đợi khi thân hoại mới nói là giả, mà ngay trong lúc ḿnh đang ngồi, đang nói chuyện, biết nó là giả. Làm sao biết được? V́ Phật dạy thân này do tứ đại đất nước gió lửa họp thành. Chất cứng là đất, ướt là nước, động là gió, ấm là lửa. Bốn chất đó họp lại cũng chưa đủ sức tồn tại mà phải nhờ tứ đại bên ngoài bồi bổ luôn. Có bồi bổ, nó mới tồn tại, nếu thiếu sự bồi bổ th́ nó tan hoại. V́ vậy chúng tôi đặt câu hỏi: Hiện giờ quí vị đang ngồi đây, mũi quí vị đang làm ǵ? Đang thở phải không? Mũi đang thở, nghĩa là chúng ta đang mượn không khí bên ngoài, hít vào là mượn, thở ra là trả, mũi cứ làm việc hít vào trả ra, đều đặn như vậy. Giả sử chúng ta trả rồi không mượn lại th́ sao? Th́ ngay đó là tắt thở! Như vậy đời sống của ḿnh thật ở chỗ nào? Điều này hết sức cụ thể, mà phải có lắm công phu mới nhận thấy được.

            Đến mượn nước, miệng mượn một tách nước uống vào vài tiếng đồng hồ sau cũng phải trả. Rồi một lát sau mượn ít chén cơm... Mượn nước để bồi bổ nước, mượn cơm để bồi bổ đất, trong cơm có chất nóng như gừng tiêu ớt để bồi bổ lửa. Như vậy chúng ta nói sống mà thật ra sống với cái ǵ? Cả ngày chỉ lo bồi bổ cho tứ đại này thôi, chỉ có bao nhiêu việc mượn và trả mà than cực, nghĩa là làm cho có cơm ăn để mượn rồi trả, kiếm có nước uống để mượn rồi cũng trả. Như thế cuộc sống của chúng ta chỉ là cuộc sống mượn trả. Nếu mượn trả được êm xuôi th́ vui cười, mượn trả mà trục trặc th́ sao? Th́ chở đi cứu cấp! Như vậy cuộc đời của ḿnh, hạnh phúc của ḿnh ra sao? Nó quá tầm thường và quá mỏng manh. Những người t́m thức ăn ngon, nước uống bổ, tất cả những thứ đó chẳng qua là mượn trả mà thôi. Khi thiếu nước, uống một ly nước lă hay một ly nước chanh cũng là mượn, không nên coi đó là quan trọng hay v́ đó mà phiền năo, nước chanh hay nước lă uống vào cũng là mượn rồi trả có ai giữ được đâu! Biết được lẽ thật như vậy th́ lúc nào cũng an vui trong cuộc sống tu hành. Mượn ít chén cơm để bồi phần đất của ḿnh. Dù được dọn cơm nóng hay cơm nguội, mượn rồi cũng phải trả có ai giữ được đâu mà quí mà tiện, mà giận hờn nhau. Biết được lư mượn trả cụ thể, biết được lẽ thật đó rồi chúng ta không c̣n phiền năo trong cách đối xử qua lại nữa, dù cách đối xử hữu ư hay vô t́nh, niềm nở hay lạnh nhạt.

            V́ chấp sai lầm không thấy đúng lẽ thật nên chúng ta phiền năo măi rồi than, sao ở giữa đời này thật khó tu quá. Không khí đang ở ngoài trong lành, mượn hít vào rồi trả ra nói cái đó là của tôi. Nước đang ở ngoài mượn uống vào một lát lại trả ra, nói cái đó là của ḿnh. Quả thật là mê muội, có cái ǵ là của ḿnh đâu!

            Tất cả cuộc sống của chúng ta chỉ  là chuyện mượn trả, cuối cùng một bộ phận nào hư mượn không được, th́ ngang đó là vĩnh biệt. Thấy rơ như  vậy chúng ta đă giải quyết bao nhiêu thứ phiền năo, trái lại chỉ nghĩ đến ăn ngon mặc đẹp th́ bao nhiêu thứ phiền năo sanh khởi.

Thấy được lẽ thật rồi , chúng tôi liền làm bài tụng rất đơn giản gọi là "Mạng Sống":

                        Mạng sống trong hơi thở,

                        Trong nhịp đập quả tim.

                        Thế nào là mạng sống?

                        Sự vay mượn liên tục.

            Câu kết phải công phu lắm mới thấy được lẽ đó, chớ không phải là thường. Chúng ta cứ nghĩ ḿnh sống, chớ không ngờ sống chỉ là sự vay mượn liên tục. C̣n tiếp tục vay mượn là c̣n sống, vay mượn ngừng lại là chết ngay. Như vậy sống bằng vay mượn, làm sao gọi là sống thật? Mà không thật th́ đâu có ǵ quan trọng. V́ cho cuộc sống là quan trọng, nên chúng ta tranh giành nhau, trách cứ và hờn giận lẫn nhau rồi bị chướng ngại trên đường tu hành. Bài kệ này không phải ngẫu nhiên có mà do suy gẫm đúng theo lời Phật dạy, trầm ngâm rất nhiều thời giờ, khi nói lên được điều này mới thấy cuộc đời bớt khổ. Phải hằng sống và nhớ được như vậy, chúng ta cũng bớt khổ.

            Đức Phật đă từng nói: "Mạng sống trong hơi thở." Thật vậy, thở ra mà không mượn không khí trở lại th́ chết ngay. Trong kinh, Phật hỏi các thầy Tỳ-kheo: Mạng sống con người là bao lâu? Có vị nói: năm ba tháng, có vị nói năm bảy ngày, có vị nói ít tiếng đồng hồ, có vị thưa trong một bữa ăn. Nhưng Phật đều bảo: Các ông không thấy đạo. Cuối cùng có một vị Tỳ-kheo thưa: Mạng sống trong hơi thở. Phật nói: Ông đă thấy đạo. Như vậy đạo là ǵ? Là chân lư, là lẽ thật, thấy được lẽ thật gọi là thấy đạo, thấy đạo là giác ngộ. Thấy rơ thân chúng ta là vay mượn, là tạm bợ, ngắn ngủi đó là chúng ta đă tỉnh đă giác, c̣n thấy thân là thật, là lâu dài quí trọng, đó là chúng ta đang mê, đang vô minh.

            Mạng sống trong hơi thở, trong nhịp đập quả tim. Như người bị bệnh tim, bất chợt tim ngưng đập th́ sao? Tức là chết rồi, như vậy làm sao nói mạng sống là lâu dài bền bỉ được. Không mượn không khí để thở là chết, quả tim ngừng đập là chết, vậy đâu có ǵ là lâu dài! C̣n liên tục vay mượn không khí hít vào thở ra, quả tim c̣n đập không dừng, đó là sống. Cho nên nói sống là động, rất là hợp lư, động là mượn trả, dừng cái động là chết. Mạng sống của ḿnh chỉ là như vậy, thế mà chúng ta cứ tưởng nó lâu dài bền bỉ, sống đến bảy mươi, tám mươi tuổi, không ngờ cái chết lúc nào cũng chực sẵn bên cạnh ḿnh. Đó là điều hết sức quan trọng, nhận thấy được như vậy không phải là chuyện dễ. Chúng ta thấy theo Kinh hoặc hiểu theo lời Phật mà không chiêm nghiệm th́ cái thấy đó không đến được lẽ thật. V́ thế Phật dạy văn tư tu, nghĩa là Phật nói ḿnh phải nghe, rồi suy gẫm cho thấm th́ việc tu mới dễ. Nếu nghe Phật dạy thân này là giả rồi ḿnh học thuộc ḷng mà rốt cuộc không biết nó giả như thế nào, chỉ nói giả ở miệng thôi chớ trong tâm trí ḿnh không có ǵ dính dáng. Nếu tâm trí suy gẫm thấy được tường tận lẽ thật đó là đă giác, là đă mồi được đuốc trí tuệ của đức Phật.

            Kế đến là thấy tâm ḿnh cũng hư dối, không thật. V́ sao? Như trong kinh Lăng Nghiêm Phật hỏi: Cái ǵ là tâm? Ngài A-nan thưa: Cái hay suy nghĩ là tâm (Năng suy vi tâm). Ngài liền bị Phật quở: đó là sai, nên Ngài mờ mịt không biết cách nào giải tỏa. Ngày nay chúng ta cũng giống như ngài A-nan cho cái suy nghĩ là tâm ḿnh. Vậy làm sao theo kinh nghiệm bản thân chúng ta biết được cái hay suy nghĩ là giả không phải là tâm? Khi ngồi tu chúng tôi chiêm nghiệm mới thấy được điều đó, chúng tôi chia cái giả làm bốn thứ:

            1- Nếu cái suy nghĩ là tâm th́ nó liên tục không dứt, nhưng có khi nó dừng nghĩ chừng một vài phút, lúc đó là có ḿnh hay không? Như lúc ngồi thiền có khi năm, mười phút không niệm khởi, không suy nghĩ, th́ lúc ấy không có ḿnh sao? Nhưng ḿnh lúc nào cũng hiện hữu mà! Nếu chấp cái suy nghĩ là ḿnh th́ khi không suy nghĩ tức là không có ḿnh chớ ǵ, đó là cái sai lầm thứ nhất.

            2- Nếu cái suy nghĩ là ḿnh, th́ ḿnh là một hay nhiều? Ai cũng biết ḿnh chỉ có một thôi, mà cái suy nghĩ th́ quá nhiều, nghĩ tốt nghĩ xấu, nghĩ hiền nghĩ dữ v.v... trong tất cả trăm ngàn thứ nghĩ đó cái nào là ḿnh? Thế nên cho cái suy nghĩ là ḿnh th́ không hợp lư, đó là cái sai lầm thứ hai.

            3- Nếu gọi cái suy nghĩ là tâm ḿnh, th́ sai lầm này chỉ người có tu mới biết, nếu chưa tu không bao giờ biết được. Như khi vừa dấy nghĩ ḿnh liền t́m cái nghĩ này từ đâu ra, nh́n lại th́ nó mất tăm mất dạng. Vậy cái suy nghĩ này chỉ là bóng thôi, đâu có thật, v́ là bóng nên vừa nh́n lại t́m nó liền mất. Chúng tôi thường thí dụ: Như có một vị Tăng ở tại Thiền viện Thường Chiếu, có duyên cớ ra ngoài cổng gần đường. Có người hỏi: Thầy đó ở đâu? Đáp: Thầy ở trong Thiền viện. Nếu vị Tăng đó có việc trở vào Thiền viện, người khác hỏi: Thầy khi năy đâu rồi? Đáp: Thầy đó trở vào Thiền viện. Như vậy thầy phải có nơi ở, rồi phải có chỗ trở về. C̣n nếu hỏi Thầy đó ở đâu, t́m lại th́ Thầy mất tiêu, người ta sẽ bảo đó là hồn ma bóng quế chớ đâu phải thật. Nếu là thật th́ phải có mặt ở đây, rồi khi vắng mặt ở đây th́ phải có chỗ trở về.

C̣n cái suy nghĩ nếu là thật, khi t́m lại, nó phải trú ở một chỗ nào, nhưng khi t́m lại nó mất tiêu không bóng không h́nh th́ làm sao thật được. Đó là cái sai lầm thứ ba.

            4- Có khi chúng ta suy nghĩ một vấn đề ǵ, có khi chúng ta ngồi chơi một cách yên ổn tự tại không suy nghĩ ǵ hết. Như vậy khi suy nghĩ ḿnh biết có suy nghĩ, khi không suy nghĩ ḿnh biết lúc đó không suy nghĩ. Thế nên cái suy nghĩ và cái không suy nghĩ là cái bị ḿnh biết, bị ḿnh thấy. Tỉ dụ như tôi là chủ ngồi trong thất, có năm, bảy người khách đến, tôi biết khách đến. Một lát khách ra về, trong thất chỉ c̣n có ḿnh tôi, tôi biết lúc này không khách, phải không? Tôi biết có khách tôi biết không khách, vậy tôi là chủ.

            Cũng như vậy, có suy nghĩ ḿnh biết, không suy nghĩ ḿnh biết, th́ suy nghĩ là khách, cái biết là chủ chớ ǵ? Thế mà lâu nay ḿnh nhận khách làm chủ, cho suy nghĩ là ḿnh, cho nên Phật nói chúng ta nhận giặc làm con. V́ mê lầm nhận giặc làm con cho nên bao nhiêu sự nghiệp của chúng ta đều tan hoang hết. Đó là cái sai lầm thứ tư.

            Kinh nghiệm trong sự tu hành cho chúng ta thấy rơ tâm suy nghĩ của ḿnh chẳng qua là bóng dáng tạm bợ không thật mà lâu nay ḿnh lại chấp lầm nó là thật. Biết được cái suy nghĩ là bóng dáng không thật th́ cái nghĩ phải của người này hay cái nghĩ phải của người kia cũng đều là bóng, đâu có ǵ quan trọng mà giận hờn mà tranh phải quấy với nhau, không có ǵ quan trọng th́ làm ǵ có phiền năo.

            Tất cả chúng ta sở dĩ khổ đau không ngoài hai cái chấp thân và tâm. V́ mê lầm chấp sai nên chúng ta tạo không biết bao nhiêu nghiệp khổ. Phật nói đó là vô minh. Từ mê lầm là hoặc, rồi tạo thành nghiệp  và thọ khổ. Hoặc, nghiệp, khổ, cứ như vậy mà trầm luân muôn kiếp. Hiện nay biết rơ thân và tâm này là giả dối chúng ta phải làm ǵ, chớ không thể bi quan tiêu cực rồi thả trôi cả cuộc đời. Chúng tôi cho một thí dụ: Chúng ta giống như những kẻ đi ngoài sông lớn trên một chiếc thuyền, bất thần bị sóng to gió lớn đập vỡ thuyền, chúng ta bị ch́m. Bất chợt chúng ta gặp được một gốc cây mục, nổi lờ đờ trên mặt nước. Chúng ta ôm gốc cây mục th́ ngay đó chúng ta phải có thái độ nào? Biết ḿnh đang ôm gốc cây mục và đang ở giữa ḍng, nếu buông gốc cây th́ chết ch́m, vậy gốc cây mục đối với ḿnh rất là quí. Nhưng nó mục, đâu có bền, th́ ngay bây giờ phải mượn nó bơi gấp vào bờ. Đến bờ rồi th́ gốc cây mục là vô nghĩa không c̣n dùng nữa. Người khôn ngoan là phải như vậy, biết ḿnh đang ôm gốc cây mục cho khỏi chết ch́m th́ phải cố gắng bơi cho tới bờ. Thí dụ này nói lên thân người ví như gốc cây mục, tạm bợ không bền chắc, nhưng chúng ta mượn nó để làm những điều lợi ích và cao thượng, chớ không phải bám vào nó, và bảo vệ nó măi, đến chừng nó ră ra ḿnh lại chết ch́m lần nữa!

            Biết thân là giả tạm chúng ta không hài ḷng với cái giả tạm đó, mà phải cố gắng làm sao được giác ngộ và giải thoát để rồi chỉ cho mọi người cùng giác ngộ và giải thoát như ḿnh. Đó là chỗ nh́n đúng của người tu. C̣n nếu nói thân giả rồi cứ ngồi hút thuốc ca hát vui chơi, nó đă giả rồi làm ǵ cho phí công vô ích! Đó là quan niệm dại khờ, phải không? H́nh ảnh người ôm gốc cây mục ở giữa sông to nhắc nhở chúng ta phải nỗ lực tu và làm lợi ích chúng sanh, chớ không phải biết thân là giả, là vô thường rồi thở than buồn khổ hoặc ăn chơi để chờ chết. Đó là ngu dại không đúng tinh thần của người hiểu đạo. Chính bản thân tôi trong lúc tu và nghiền ngẫm đạo lư, chúng tôi thấy được lẽ thật này nên tŕnh bày để quí vị được rơ.

            Chúng ta tu là phải hằng tỉnh hằng giác biết rơ thân và cái gọi là tâm đều giả, nên trong đời sống tu hành nếu có ai lỡ lời nói nặng, chúng ta biết thân và ngôn ngữ là giả th́ mọi phiền năo theo đó sẽ hết; trái lại nếu thấy chúng là thật th́ phiền năo nổi lên, chúng ta sẽ xâu kết lại và gồng gánh cho đến suốt đời. Nếu không thấy đúng như thật th́ không sao gỡ được phiền năo, dù có kêu cầu cứu cũng không ai gỡ được cho ḿnh, chính trí tuệ của ḿnh thấy đúng như thật mới gỡ được các phiền năo.

            Trong kinh Viên Giác chương Phổ Hiền đức Phật nói: "Tri huyễn tức ly, bất tác phương tiện. Ly huyễn tức giác, diệc vô tiệm thứ." Nghĩa là: Biết huyễn tức là ĺa. Biết thân này là giả, tâm này là giả th́ mọi ràng buộc về nó chúng ta đều ĺa bỏ được một cách dễ dàng, không cần tạo phương tiện ǵ. Thật vậy, chúng ta tu mà cứ nghĩ mà phải tạo phương tiện này hay phương tiện kia, nhưng sự thật Phật dạy: Chỉ thấy rơ thân, tâm là giả, liền ĺa hết các thứ phiền năo, các thứ trói buộc.

            Ly huyễn tức giác: Biết đó là huyễn, ḿnh không c̣n bám chặt vào nữa, đó là giác rồi. Diệc vô tiệm thứ, tức là giác không có thứ lớp, đó là giác liền, không có nói nay một phần, mai một phần chi hết.

            Như vậy trên đường tu, chúng ta phải thấy thân và tâm này là hư dối, huyễn hóa, thấy rơ như vậy tức là giác, giác rồi là cái vô minh muôn đời cũng tan hết, giống như cái nhà tối bao nhiêu năm, chúng ta thắp lên ngọn đèn liền sáng. Nếu hết vô minh tức dứt ḍng sanh tử. Thế nên trong kinh Phật nói: Vô minh diệt th́ hành diệt... Con đường tu của chúng ta đă quá rơ ràng không có nghi ngờ ǵ nữa.

            Người thật tu có thần thông biết quá khứ vị lai hay không? Có biết căn cốt đời trước của Phật tử chăng? Có biết đoán coi Phật tử bao giờ hết khổ? Chúng tôi thường được hỏi những câu như vậy. Ít ai nghĩ tu là phải hằng tỉnh hằng giác, thấy rơ thân tâm chúng ta là giả dối không thật, nên những việc đến với ḿnh, ḿnh gỡ ra dễ dàng không bị dao động, trong nhà Thiền gọi là bát phong xuy bất động nghĩa là tám gió thổi không động. Tám gió là ǵ? Tức là lợi suy, hủy dự, xưng cơ, khổ lạc. Lợi là được tài lợi, suy là bị suy hao, hủy là bị hủy nhục, dự là được đề cao, xưng là được khen ngợi, cơ là bị chê hiềm, khổ là buồn khổ, lạc là an vui. Chúng tôi sẽ cho thí dụ hết sức dễ để quí vị thấy chúng ta bị động v́ lợi và suy. Người ta thường nghĩ lợi là cái thuận hợp cho ḿnh, được lợi th́ có ǵ đâu mà phải động. Nhưng thật ra lợi là một cái động lớn. Giả sử như ở đây có ai mua một vé số gởi cúng cho một thầy, và vị thầy cũng hoan hỉ nhận. Rồi đến ngày xổ số có người báo tin là vé số của thầy trúng mười triệu, th́ đêm đó thầy có ngủ được không? Trúng được mười triệu, chắc thầy khỏi ngủ. Gió lợi nó thổi ḿnh bay không ngủ được. Không phải chỉ một đêm không ngủ thôi, mà khi đi lănh tiền được mười triệu rồi, có yên ḷng về chùa ngồi thiền như những ngày trước hay không? Hay là được tiền rồi, phải suy tính nên làm cái ǵ? Rồi bao nhiêu thứ nghĩ tính sanh ra, tính trúng cũng có, tính trật cũng có, cho đến bao giờ dùng hết số tiền đó mới hết nghĩ tính, khi ấy mới hết động! Quí vị thấy chỉ cái lợi thôi mà đă bị động chừng ấy, huống nữa là bị suy hao tài vật. Ví dụ ḿnh có nhà cao cửa rộng hoặc chùa lớn Phật to, bất thần có việc ǵ xảy đến khiến cho nhà cửa ḿnh tan nát hoặc chùa chiền ḿnh bị hư sập, lúc ấy ḿnh mất ngủ bao nhiêu ngày đêm? Trong suốt thời gian đôi ba năm mà chưa gầy dựng lại được, lúc nào cũng chặc lưỡi thở dài. Như vậy quí vị thấy cái động không phải nhất thời mà kéo dài cho đến bao giờ b́nh lại mới thôi. Chỉ có hai gió lợi, suy mà đă khó giữ cho không động, huống nữa là tám gió...

            Hai gió sau cùng là khổ và vui. Thí dụ như ở Thiền viện đây cái ǵ là khổ nhất cho các huynh đệ? Không biết các nơi khác th́ sao, chớ ở Thường Chiếu này ai mà trị nhật phải xuống bếp nấu ăn là khổ nhất. Tới phiên trị nhật hoặc làm tri khố là khổ nhất, mặt mày người nào cũng cứ nhăn nhó hoài. Gắng làm sao tới phiên tri khố hay trị nhật mà vẫn tươi cười, đứng trước bếp lửa hừng hực, mồ hôi ướt đẫm mà không có ǵ bực bội, đó là đă tiến lắm rồi, cái khổ nhỏ mà ḿnh thắng được cũng là hay lắm. Phần nhiều chúng ta hay nói gần lửa th́ dễ sân, nên ai vô bếp cũng dễ sân v́ nóng quá, lại mệt nữa nên động tới là nổi sân liền. Quí vị thấy một chút khổ đó đă động rồi huống nữa là cái khổ đói rét hay những khổ đau rên siết th́ c̣n động biết là dường nào! Røồi đến cái vui cũng vậy, nếu vui quá th́ tâm ḿnh cũng lăng xăng dao động...

            Thế nên người tu giá trị không phải là có thần thông, biết quá khứ vị lai, mà giá trị ở chỗ gặp lợi ḿnh vẫn b́nh thản, gặp suy ḿnh vẫn an ổn, cho đến gặp khổ hay vui ḿnh cũng an nhiên, người đó mới là đạo nhân chân chánh. C̣n nếu nói quá khứ vị lai mà bị chê liền đỏ mặt tía tai th́ nói quá khứ vị lai chỉ là tṛ chơi thôi. C̣n nói ngồi thiền tám tiếng hay mười hai tiếng đồng hồ, hoặc một ngày một đêm, mà khi động tới th́ nổi sân đó cũng chưa phải là thứ thật. Người tu thật là ở trong tám gió vẫn thản nhiên, thổi mấy cũng không động, thế mới gọi là chân tu. Hôm nào quí vị thử xem c̣n động không, nếu không động là không c̣n chấp thân và tâm, không c̣n chấp  chúng ta mới dứt hết các khổ.

            Người tu là phải có thực lực, nghĩa là trước những cảnh khổ đau chúng ta vẫn xem thường. Chúng tôi thường kể câu chuyện của Tổ Sư Tử. Khi vua nước Kế-tân hỏi: Ngài xem thấy ngũ uẩn đều không, phải không? Ngài đáp: Phải. Vua nói: Ngài cho tôi cái đầu được không? Ngài trả lời: Ngũ uẩn c̣n không, sá ǵ cái đầu. Và Ngài cho vua cắt đầu. Đó mới gọi là thấy không thật một cách triệt để. C̣n chúng ta nói thân là giả, mà khi động tới th́ chịu không nổi. Như vậy chúng ta chỉ thấy trên lời nói, chớ không sống được với lẽ thật. Nếu thật tu th́ kết quả là tám gió thổi không động.

            Đoạn trên chúng tôi đă nói về giải thoát và giác ngộ, giải thoát tức đập tan xiềng xích sanh tử, giác ngộ tức dùng kiếm trí tuệ chặt đứt sợi dây vô minh đă cột chúng ta vào ṿng trầm luân. Giác ngộ và giải thoát rồi chúng ta c̣n phải làm ǵ? Chúng ta phải thể hiện ḷng từ bi, tức là nguyện đem ngọn đuốc trí tuệ soi rọi cho mọi người thoát khỏi chỗ u tối vô minh. Phật dạy chúng ta từ bi là khi chúng ta đă có giác ngộ và giải thoát phần nào dù nhiều hay ít. Có nhiều người nói: Ḿnh chưa giác ngộ như Phật làm sao có từ bi? Chúng tôi thí dụ: Như chúng ta đang cùng ở trong một căn nhà tối mù mịt, nếu người nào có được cây đèn cầy và thắp lên, tuy ánh sáng nhỏ thôi nhưng đem lại giữa nhà th́ mọi người cùng được sáng. Cũng như ban đêm chúng ta đang đi trên con đường tối, nếu có ai thắp được một cái đèn dầu nhỏ th́ gọi những người bạn đồng hành cùng nương theo ánh sáng đó để đi cho khỏi rơi hầm rớt hố. Ánh sáng của ngọn đèn tuy nhỏ nhưng rất cần cho những người đang đi trong đêm tối. Đó là trường hợp chúng ta tu được một chút trí tuệ và một chút giải thoát. Nếu tu khá hay giỏi hơn chúng ta sẽ được những ngọn đèn lớn sáng hơn, như đèn bấm hay đèn "măng sông" hay nếu giỏi hơn nữa như ánh sáng mặt trăng mặt trời soi khắp cả thế giới. Như vậy ánh sáng nào dù của đèn dầu hay của mặt trăng mặt trời cũng có giá trị riêng của nó. Hiện nay nếu được một chút ánh sáng nào chúng ta cũng đều chia sớt cho mọi người cùng hưởng để tránh những tai nạn có thể xảy đến. Sự chia sớt đó gọi là từ bi.

            Thế nên người Phật tử tại gia hay xuất gia không có quyền thọ hưởng riêng một điều ǵ. Quí vị nhớ khi tụng kinh xong th́ chúng ta cầu nguyện công đức tu hành hướng về không phải cho riêng ḿnh mà cho ḿnh và mọi người đều thành Phật đạo, đó là tâm từ bi. Phật không cho phép chúng ta làm điều ǵ chỉ  nghĩ riêng ḿnh mà phải nghĩ ḿnh và mọi người cùng chung hưởng.

            Điều cần yếu chúng ta phải nhớ có đèn rồi chúng ta mới soi đường cho người cùng đi, nếu chưa có đèn mà hướng dẫn người khác th́ khi ḿnh sụp hố, những người theo ḿnh cũng đều rớt xuống hố. Nếu từ bi, thương xót người mà không chịu tu để thắp sáng đuốc trí tuệ, chỉ lo cho thiên hạ, rốt  cuộc rồi ḿnh và người đều rơi cả, đó là tai họa lớn. Hiểu đạo Phật là chúng ta phải hiểu cho thấu đáo lẽ này, ḷng từ bi phát ra sau khi chúng ta có trí tuệ, được giác ngộ, hay có phần nào tự chủ khi tám gió thổi. Được như vậy chúng ta mới có thể phát tâm từ làm lợi ích cho mọi người, bằng ngược lại chúng ta phải dè dặt cẩn thận chẳng những không làm lợi cho người lại làm hại là khác.

            Sau khi biết rơ trọng trách của người tu Phật, quư vị thấy trọng trách ấy có nặng không? Đó là chuyện phi thường, chớ không phải tầm thường. Nhiều khi chúng ta nghĩ ḿnh là một vị Tăng hay một cô Ni không quan trọng ǵ rồi cứ lôi thôi để qua ngày hết tháng hay dể ngươi vui đùa năm này qua năm khác, thật uổng phí một đời tu. Người xưa mỗi khi chiều xuống kiểm điểm lại sự tu hành thấy chưa tiến bộ được bao nhiêu, đau khổ rơi nước mắt. C̣n chúng ta ngày nay năm đă hết, chúng ta thử kiểm điểm lại xem đă tiến được bước nào chưa? Nếu tu chưa tiến, chúng ta có rơi lệ đau buồn không? Hay chúng ta cứ cười chúm chím hay cười hỉ hạ?

            Ư thức được trách nhiệm hết sức quan trọng của ḿnh, chúng ta quyết tâm giải thoát sanh tử, quyết tâm thắp sáng ngọn đuốc trí tuệ và d́u dắt người ra khỏi chỗ mê lầm tăm tối. Chúng ta không thể lơ là với việc tu hành, không thể dể duôi để ngày tháng qua suông mà phải luôn luôn nỗ lực tiến tu.

            Nhân ngày cuối năm, chúng tôi ôn lại những lời Phật dạy và những câu kinh câu kệ cốt để quí vị thấm nhuần, rồi chúng ta kiểm điểm lại xem trong một năm qua đă tiến được bao nhiêu, nếu chưa tiến th́ ráng cố gắng đừng để mất thời giờ. Chúng ta đă là những người có ư chí siêu phàm thoát tục th́ không nên để cho đời ḿnh trôi qua như bao người phàm tục khác, uổng đi một đời tu của ḿnh, uổng công trông chờ của cha mẹ và những người thân thuộc. Thầy Tổ cũng đang trông mong quí vị sẽ là những ngọn đuốc tương lai để tiếp nối người đi trước và soi sáng kẻ đi sau. Nếu quí vị lơ là chần chờ không làm bổn phận của ḿnh là phụ ơn Thầy Tổ, thật là điều đáng trách. Hơn nữa chúng ta sống nhờ hạt cơm manh áo của đàn-na thí chủ và những người trong xă hội th́ chúng ta phải làm sao cho xứng đáng là một người xuất gia, một người tu theo Phật. Chúng tôi mong rằng quí vị sẽ xứng đáng nhiều hơn nữa trong năm mới sắp đến.

]


NGÀY XUÂN QUA
CÁC THIỀN SƯ VIỆT NAM - XUÂN CANH NGỌ 1990

(Tăng Ni)

            Hôm nay là ngày đầu Xuân năm Canh Ngọ (1990), tất cả Tăng Ni và Phật tử về đây chúc mừng năm mới và yêu cầu chúng tôi nhắc nhở sự tu hành để được tinh tấn hơn trên đường đạo. Nhân ngày đầu năm chúng tôi sẽ nói về: “Ngày Xuân qua các Thiền sư Việt Nam.” Với đề tài này quí vị sẽ thấy rơ tinh thần người xưa dạy bảo chúng ta như thế nào để chúng ta cố gắng tu cho xứng đáng là những Thiền sinh Việt Nam. Các Ngài luôn mong muốn chúng ta mồi ngọn đuốc sáng của các Ngài để soi đường hướng dẫn người sau.

            Nói đến ngày Xuân, chúng ta có cảm tưởng như chỉ có Xuân ở thế gian, nhưng thật ra trong nhà Phật cũng dùng chữ Xuân để nói lên những ư nghĩa thâm trầm của Đạo.

            Trước tiên chúng tôi nhắc quí vị, tất cả chúng ta có đủ phước duyên nên ngày nay chọn được con đường của ḿnh đang đi, một con đường thênh thang, tươi mát và an lạc. Nói như vậy có vẻ như chúng tôi chủ quan, nhưng sự thật nếu tất cả chúng ta đều một ḷng hướng thẳng về sự tu hành, đi theo con đường đức Phật đă dạy, th́ mỗi bước đi là một bước an lành, mỗi một bước đi là rơi rụng bao nhiêu đau khổ. Thế nên con đường tươi đẹp và mát mẻ chúng ta đang đi là tượng trưng cho mùa Xuân, nhất là những ngày đầu Xuân.

            Nói đến Xuân chúng ta nghĩ đến sự ấm áp tươi vui, nghĩ đến sự ấm no hạnh phúc. Dù cho nghèo mấy đi nữa, ngày đầu Xuân ít ra chúng ta cũng sắm được chút ít bánh mứt, cũng được nghỉ đôi ba ngày Tết đầu năm. V́ vậy nói đến ngày Xuân là nói đến sự ấm no, nói đến sự nhẹ nhàng thanh thản.

            Trong đạo, các Thiền sư cũng dùng chữ Xuân để nhắc nhở chúng ta. Nhờ lời khuyên dạy của các Ngài, chúng ta càng tu càng phấn khởi hơn, càng vui thích hơn, nếu không th́ tu lâu sẽ cảm thấy ngán và buồn. Tại sao ngán buồn? V́ ăn chay ăn lạt suốt đời, lại thêm thức khuya dậy sớm, bị rầy bị quở. Cho nên ở chùa lâu ngày cảm thấy ngán buồn nếu không t́m được nguồn vui, nguồn vui đó các Thiền sư dùng chữ Xuân để diễn tả. Vậy chúng ta phải cố gắng đi măi trên con đường tươi đẹp đă chọn dù phải vấp té trầy chân hay gặp những ḥn sỏi phiến đá trở ngăn. Nhưng dù những chướng ngại có khó khăn bao nhiêu cũng không thể ngăn cản được bước chân của những tâm hồn khoáng đạt, của những con người nguyện quyết tiến đến chỗ an lạc miên viễn mới thôi. Người tu là người thấy tương lai ḿnh xán lạn tươi vui, chớ không phải càng tu rồi càng tối tăm đau khổ. Chính mỗi bước tu là mỗi bước chúng ta huớng về mục tiêu cao quí nhất, an lạc nhất của đời ḿnh. V́ vậy khi nói đến ngày Xuân chúng ta cảm nhận một niềm vui tràn đầy ở ngày mai.

            Các Thiền sư Việt Nam nh́n ngày Xuân như thế nào?

            Đầu tiên là Thiền sư Chân Không ở giữa đời Lư. Có một Thiền khách đến hỏi Ngài: “Bạch Ḥa thượng, khi sắc thân bại hoại th́ thế nào?”

            Ngài liền đáp bằng hai câu thơ:

                        Xuân đến, Xuân đi ngỡ Xuân hết,

                        Hoa nơ,û hoa tàn chỉ là Xuân.

            Ngài quan niệm tu là một mùa Xuân, không phải chỉ mùa Xuân trong ba tháng mà mùa Xuân muôn đời muôn kiếp.

                        “Xuân đến, Xuân đi ngỡ Xuân hết”

            Thấy có Xuân đến Xuân đi v́ chúng ta nh́n Xuân qua bốn mùa của thời gian. Nhưng ở đây Thiền sư không nói Xuân của thời gian mà nói Xuân của tất cả người thoát khỏi cái sanh diệt của thời gian. Thường người đời thấy Xuân qua ngỡ là Xuân hết, song đối với người tu xuất thế th́ Xuân lúc nào cũng sẵn ở ḷng ḿnh, ngày nào tháng nào năm nào cũng là Xuân, nh́n đâu cũng tươi đẹp, nh́n đâu cũng an vui. Nhưng trên thực tế th́ thế nào? Cũng có những ngày mây sầu ảm đạm, nhiều người lau nước mắt!

            Tuy vẫn là Xuân nhưng v́ mây mưa bao phủ nên Xuân bị khuất đi. Nếu tâm hồn chúng ta an lành tự tại th́ ngày nào chẳng phải là Xuân?

                        “Hoa nở, hoa tàn chỉ là Xuân”

            Mùa Xuân thấy hoa mai nở, đa số người cho đó là Xuân, rồi độ mười ngày sau hoa tàn th́ cảm thấy Xuân tàn. Nhưng ở đây Thiền sư Chân Không mượn hoa để trả lời câu hỏi của Thiền khách: “Khi sắc thân bại hoại th́ thế nào?” Hoa nở rồi tàn, sắc thân chúng ta cũng như hoa, sanh ra rồi già chết, không có lâu bền. Nhưng trong cái tan hoạïi đó, vẫn có cái măi măi an lành tỉnh giác. Thế nên Thiền sư mượn Xuân để tượng trưng cho cái ấy. Nếu biết khéo trở về cái chân thật của ḿnh, th́ thân này c̣n hay mất chỉ là tạm bợ, c̣n cái chân thật lúc nào cũng thanh tịnh, sáng suốt, trong kinh gọi đó là Pháp thân, Pháp thân thanh tịnh, miên viễn, không tan hoại.

            Tất cả sự vật đều bị thời gian chi phối, có đó rồi hoại đó. Thân chúng ta cũng vậy, theo thời gian mà bại hoại. Nếu chúng ta không biết trở về với thể chân thật của chính ḿnh th́ khi sắc thân bại hoại chúng ta đau khổ vô ngần. Thế nên sống được với thể chân thật không sanh không diệt th́ ngày nào cũng là Xuân, lúc nào cũng là Xuân và miên viễn là Xuân.

            Vậy cái nh́n của Thiền sư Chân Không là thấy tất cả đều là Xuân, cho nên Ngài sống an lạc trong mùa Xuân miên viễn đó. Nếu có ai đến hỏi đạo Ngài đều diễn tả cái đẹp, cái an lành của chính ḷng ḿnh cho mọi người thấy và cảm thông.

            Kế đến là Thiền sư đời Trần, ngài Trúc Lâm Đầu-đà, hiệu là Điều Ngự Giác Hoàng (tức là vua Trần Nhân Tông khi c̣n tại vị). Sau khi đi tu, đến năm sáu mươi mốt tuổi, Ngài được tin người chị đang đau nặng, Bà muốn gặp Ngài để từ giă lần cuối. Từ núi Yên Tử Ngài liền trở về triều. Thăm chị xong, trên đường về núi, khi đến chùa Làng Hương Cổ Châu, Ngài cảm thấy sức khỏe đă quá yếu, và biết không c̣n sống bao lâu nữa, Ngài cảm hứng viết một bài kệ trên vách chùa:

                        Thế số nhất tức mặc

                        Thời t́nh lưỡng hải ngân,

                        Ma cung hồn quản thậm

                        Phật quốc bất thắng Xuân.

Dịch :

                        Số đời một hơi thở

                        Biển bạc ḷng người tham,

                        Cung ma cai quản ngặt

                        Cơi Phật Xuân nào hơn.

            Qua bài kệ này ngài Trúc Lâm Đầu-đà muốn nói lên điều ǵ?

            “Số đời một hơi thở, biển bạc ḷng người tham”, khi bản thân sắp tàn Ngài thấy cuộc đời ngắn ngủi như trong hơi thở, thở ra không hít vào là đă qua đời khác. Thế mà ḷng người th́ mênh mông, mênh mông trong tham vọng. Được cái này muốn cái kia, được điều kia muốn điều khác. Như vừa cất cái nhà xong kế muốn có chiếc xe, vừa có chiếc xe lại muốn có chiếc tàu... muốn măi không thôi cho đến ngày tắt thở cũng chưa dừng. Thế rồi người ta đuổi theo nhau mà tạo nghiệp, giành nhau về danh về lợi rồi tự ḿnh chuốc khổ.

            Hai câu đầu của bài kệ đánh thức mạnh mẽ để chúng ta biết rằng cuộc đời quá ngắn ngủi, không có ǵ là quan trọng, là đáng kể. Nhưng ḷng tham chúng ta quá lớn, nên không theo kịp tuổi thọ của ḿnh. Chúng ta muốn mười điều, mà tuổi thọ cho phép chúng ta làm mới có một hai th́ cái chết đă đến rồi! Bất cứ người nào trước khi nhắm mắt đều tỏ ra chưa hài ḷng, việc làm đời ḿnh chưa xong. Rất ít người nói ḿnh đă làm xong việc. Nếu là cha th́ lo cho con lớn khôn ăn học, rồi có đôi bạn. Lo cho con xong, lại thấy trách nhiệm phải lo cho cháu. Đến khi cháu lớn khôn th́ ḿnh đă tám mươi, chín mươi tuổi rồi! Đến cháu cố nó bơ vơ nghèo thiếu ḿnh lại tiếp tục lo nữa, lo măi cho đến ngày tắt thở cũng chưa xong! Người ở thế gian đều ôm ḷng tham lớn lao đó nên luôn luôn sợ chết, chết mà chưa rồi những việc ḿnh muốn làm. Sợ chết mà có tránh khỏi được đâu! Thế nên chúng ta phải ư thức rơ tuổi thọ chúng ta ngắn ngủi, làm việc ǵ cũng phải vừa với tuổi thọ của ḿnh để cho tṛn việc.

            Đến hai câu cuối bài kệ:

                        Cung ma cai quản ngặt

                        Cơi Phật Xuân nào hơn.

            Ngài Trúc Lâm so sánh cho chúng ta thấy hai con đường. Nếu chúng ta đuổi theo danh lợi tài sắc, rồi tạo bao nhiêu nghiệp xấu ác th́ chúng ta sẽ đi tới cung ma. Cung ma cai quản ngặt, không được bước ra khỏi cổng, c̣n bị hành hạ tra khảo, đó là cảnh khổ đau đen tối. C̣n nếu trong cuộc sống ngắn ngủi này, chúng ta biết tu, biết hướng về đạo, đem hết tâm ḿnh tiến đến chỗ giác ngộ thanh tịnh, đó là chúng ta trở về cơi Phật, tức là trở về mùa Xuân đẹp đẽ không ǵ b́ kịp.

            Trong cuộc sống tu hành không có ǵ kích động mạnh chúng ta bằng cơn vô thường xảy đến. Chúng ta đang sống b́nh an vui tươi, bất chợt có người huynh đệ nào tắt thở, lúc ấy chúng ta tỉnh ngay, muốn tu gấp, tu bằng hai ba lần những ngày thường. Nhưng tỉnh được bao lâu? Nhiều lắm đến bốn mươi chín ngày, tụng kinh xong chúng ta mê trở lại như cũ. V́ vậy chúng ta cứ lảng vảng trên đường mê, không tỉnh giác, nên chúng ta không làm được những điều lành điều tốt để tạo sự an lạc cho đời này và đời sau. V́  thế ngài Trúc Lâm Đầu-đà khuyên chúng ta phải nhớ hai con đường, một bên là cung ma đen tối khổ đau bị cai quản ngặt, một bên là cơi Phật an vui tự tại lúc nào cũng là Xuân. Giữa hai con đường đó chúng ta phải chọn đường nào để đi? Chắc rằng tất cả quí vị hiện có mặt ở đây đă chọn đường rồi. Chúng ta đều đang đi trên con đường thênh thang đẹp đẽ, tươi mát và an lạc, con đường Xuân, tức con đường về cơi Phật. Thử hỏi có ai muốn trở chân đi con đường khác hay không? Chúng ta không c̣n ngu dại ǵ mà trở chân xây mặt đi qua con đường khác tối tăm, mờ mịt, khổ đau. Chúng ta đă có duyên lành từ đời trước, cho nên bây giờ mới chọn con đường đẹp đẽ này. Mong rằng tất cả đừng có niệm thối Bồ-đề tâm, muốn đứng lại hay xây mặt trở qua con đường khác. Đó là lời nhắc nhở qua bài kệ của ngài Trúc Lâm Đầu-đà. Sau ngài Trúc Lâm là ngài Pháp Loa, sau ngài Pháp Loa là ngài Huyền Quang. Ngài Huyền Quang có bài thơ nói về Xuân gọi là “Xuân Nhật Tức Sự”.

                        Nhị bát giai nhân thích tú tŕ,

                        Tử kinh hoa hạ chuyển hoàng ly.

                        Khả liên vô hạn thương xuân ư,

                        Tận tại đ́nh châm bất ngữ th́.

            Dịch :

                        Lỏng tay thêu gấm, gái yêu kiều,

                        Hoa rợp, hoàng oanh lảnh lót kêu.

                        Bao nỗi thương Xuân, thương biết mấy,

                        Là khi không nói, chợt dừng thêu.

                                                                         (Huệ Chi)

            Bài thơ này rất đẹp về Xuân, nhưng lại gây cho một số học giả phê b́nh: Ngài Huyền Quang là một Thiền sư, mà tâm Ngài c̣n dồi dào t́nh cảm! V́ sao? V́ Ngài diễn tả một cô gái mười sáu tuổi đang thêu gấm. Ở ngoài kia lại có hoa nở, chim hoàng oanh hót. Thật là thương khi thấy cô gái dừng tay thêu và im lặng không nói một lời! Như vậy có phải là Ngài thương cô gái hay không? Đây là một vấn đề chúng tôi nêu ra để quí vị thấy cái hay của người xưa mà chúng ta không hiểu được. Khi các Thiền sư nói, chúng ta đừng kẹt ở ngữ ngôn hiện tại mà phải thấy cái ǵ ở ngoài ngữ ngôn đó, thường gọi là “Ư tại ngôn ngoại” tức là thấy cái ǵ ngoài kia chớ đừng thấy ở đây.

            Chúng tôi xin kể lại một câu chuyện quí vị đă từng nghe nhiều lần, nhưng mỗi lần kể mỗi lần có ư vị riêng của nó. Đó là câu chuyện “Bà già đốt am”, bà già này biết đạo. Có một Thiền khách đến, xin bà giúp đỡ cất cho một cái am và ủng hộ tu hành cho mau đạt kết quả. Bà rất sẵn sàng cất cho thầy một cái am và mỗi ngày cơm cháo đầy đủ, tứ sự cúng dường không thiếu món chi. Thầy tu như vậy được ba năm. Bà già tin rằng sự tu hành của thầy được kết quả rất tốt. Để chiêm nghiệm điều đó, bà bèn sai một đứa cháu gái khoảng mười tám tuổi đem cháo cho thầy dùng, xong rồi bất chợt ôm ngang hông thầy, liền hỏi: “Ngay bây giờ th́ thế nào?” Thầy đáp:

                        Khô mộc ỷ hàn nham,

                        Tam Xuân vô noăn khí.

            Tức là:

                        Cây khô tựa núi lạnh,

                        Ba mùa Xuân không chút hơi ấm.

            Câu trả lời như vậy thật quá hay, xứng đáng cho chúng ta kính lạy phải không? Ba mùa Xuân rồi không một tí hơi ấm, để nói rằng thầy đă khô lạnh không c̣n có niệm ǵ với trần tục nữa. Nghe cô cháu  gái về thuật lại câu chuyện, Bà nói: “ba năm nay nuôi một ông thầy phàm phu”, liền đuổi thầy đi và đốt am. Nếu câu chuyện ngang đây kết thúc sẽ làm chúng ta bàng hoàng, nhưng c̣n một đoạn kết ở sau.

            Sau khi bị đuổi, ông thầy ra đi, nhưng vài năm sau, thầy trở lại t́m bà già. Và cũng như lần trước, thầy nhờ bà giúp cho việc tu hành. Bà cũng hoan hỉ cất lại am và cúng dường cơm cháo đầy đủ cho thầy. Sau một thời gian, bà bảo cô cháu gái thử thầy như lần trước. Đem cháo lên xong, cô liền ôm ngang hông thầy và hỏi: “Ngay bây giờ th́ thế nào?” Thầy trả lời: “Tôi biết, cô biết, đừng cho bà già ấy biết!” Như vậy là sao? Ngay đây ông thầy c̣n cao thượng như khi xưa không? Mới nghe qua tưởng rằng thầy có t́nh ư ǵ nên mới bảo: Tôi và cô biết thôi, đừng cho bà già biết bà ngăn trở. Nhưng không ngờ khi cô gái về thuật lại cho bà nghe, bà nói: “À như vậy mới xứng đáng là người mà ta cúng dường.”

            Nghe qua câu chuyện chúng ta thấy bà già hiểu đạo đến mức nào! Điều mà thế gian tưởng là có t́nh ư xấu xa, trong đạo lại là cao siêu.V́ sao? Nếu nh́n với mắt trần tục th́ sẽ phê b́nh thầy: “Ông thầy chắc hết muốn tu rồi nên mới thốt ra câu nói rất phàm tục. C̣n ngày xưa ông tu rất hay, ông khô lạnh hết rồi. Bây giờ ông giấu bà già không cho biết, chỉ để hai người biết thôi.”

            Kỳ thật câu chuyện này đưa ra cho chúng ta một kinh nghiệm. Bà già đó trong nhà Thiền gọi là bậc thượng thủ, chớ không phải thường. V́ thế khi nghe thầy nói: tâm ông khô lạnh, không c̣n một chút hơi ấm, tức là diễn tả tâm ông đă ch́m lặng  không c̣n một tí t́nh ǵ đối với mọi người, bà già biết ông đang ch́m trong biển độc, nên đuổi đi và đốt am để cảnh giác ông. Tuy ông tu rất hay nhưng ông ch́m trong chỗ khô lạnh, nhà Thiền gọi là ch́m trong biển vô sanh. Khi bị đuổi đi ông sực thức tỉnh biết chỗ lỗi của ḿnh, biết chỗ kẹt của ḿnh. Ngay đó ông vươn lên và nhảy khỏi. Rồi ông trở về để thử thách lại bà già. Ông yêu cầu được ở và được nuôi như trước. Đến khi người con gái ôm ngang lưng ông lần nữa, ông nói: “Tôi biết, cô biết, đừng cho bà ấy biết.” Tức là hiện giác hằng giác mà không có niệm quá khứ vị lai. Đó mới là con người chân thật, con người thật sự tiến đến giác ngộ. Thế nên bà già mới khen đó là người xứng đáng để bà cúng dường. “Không cho bà biết” v́ bà là người ngoại cuộc không có hiện hữu hiện thời. Nếu đợi mách cho bà biết  là ở một thời gian khác, thành vị lai mất rồi. C̣n có niệm quá khứ vị lai là làm mất cái thường giác của ḿnh. Hằng giác hiện giác đó là chỗ mà ông hằng sống. Nếu không biết chỗ sống ấy, với ư phàm tục chúng ta sẽ phê b́nh ông thầy.

            Sau đây là câu chuyện của ngài Viên Ngộ ngộ đạo nơi thầy là Ngũ tổ Pháp Diễn. Một hôm có quan Đề H́nh đến thăm Ngũ Tổ, Ngũ Tổ hỏi: Đề H́nh lúc c̣n trẻ có đọc thơ Tiểu Diễm không? Có hai câu thơ rất gần trong đây:

                        Tần hô Tiểu Ngọc nguyên vô sự,

                        Chỉ tại đàng lang nhận đắc thanh.

            Dịch:

                        Vừa kêu Tiểu Ngọc nguyên không việc,

                        Chỉ cốt anh chàng nhận được thanh.

            Hai câu thơ này cô đọng một câu chuyện t́nh thế gian như sau: Có một nàng tiểu thơ có t́nh ư với một chàng thanh niên ở gần bên nhà. Một hôm vào chiều tối, chàng thanh niên lân la đến nhà cô thiếu nữ ư muốn t́m pḥng của nàng mà chưa biết chỗ nào. Cô thiếu nữ nh́n thấy anh chàng đang núp ngoài rào, cô không biết làm sao để chàng nh́n thấy biết pḥng của cô, cô liền kêu: “Tiểu Ngọc đem b́nh trà lại pḥng này cho cô.” Pḥng này tức là pḥng của cô đang đứng trước cửa. Tức th́ anh chàng ngoài kia nh́n thấy biết pḥng đó là của cô rồi. Như vậy khi kêu Tiểu Ngọc, thật ra không có việc ǵ quan trọng nên nói là: nguyên không việc. Tiếng kêu đó cốt để cho ai nghe? “Chỉ cốt anh chàng nhận được thanh.” Tiếng kêu đó không nhắm người thị nữ, mà nhắm vào anh chàng ngoài kia. Tuy kêu ở đây mà ư ở ngoài kia. Khi nghe câu thơ rồi, ngài Viên Ngộ liền ngộ. Đây là ngộ trong t́nh tự, hay ngộ cái ǵ? Như vậy chúng ta thấy tinh thần Thiền tông không phải tại lời nói ở đây, mà phải thấy ở bên kia. Đó mới gọi là thấy được lư Thiền.

             Sau khi ngộ đạo, ngài Viên Ngộ tŕnh lên thầy bài thơ, mà hai câu cuối lời lẽ rất là phàm tục:

                        Thiếu niên nhất đoạn phong lưu sự,

                        Chỉ hứa giai nhân độc tự tri.

            Dịch nghĩa:

                        Nguời thiếu niên chỉ có một việc phong lưu,

                        Là mong được giai nhân (cô gái đẹp) riêng biết ḿnh thôi.

            Hai câu thơ mới nghe rất là t́nh tứ, nhưng khi được tŕnh lên th́ ngài Pháp Diễn nhận đó là thấy đạo. Thế nên ngôn ngữ trong nhà Thiền nếu hiểu theo thế tục th́ sai lầm, lệch ư.

            Trở lại bài thơ của ngài Huyền Quang, lời dịch rất rơ ràng:

                        Lỏng tay thêu gấm, gái yêu kiều,

                        Hoa rợp, hoàng oanh lảnh lót kêu.

                        Bao nỗi  thương Xuân, thương biết mấy,

                         Là khi không nói, chợt dừng thêu.

                                                           (Huệ Chi)

            Qua bài thơ, chúng ta cứ nghĩ rằng Ngài tỏ vẻ quyến luyến cô gái đang thêu, cô gái thấy dễ thương, thương lắm! Nhưng không ngờ dùng chữ thương lắm, là thương khi nào? Là khi không nói, khi dừng thêu. Chính lúc ấy Ngài thương lắm. V́ sao? Tôi lại dẫn một câu chuyện khác, rồi  sẽ giải thích lư do v́ sao.

            Một vị Ni đời Lư, Ni Diệu Nhân khi sắp tịch để lại những câu thơ nhắc nhở đồ đệ, có hai câu như sau:

                        Thiền Phật bất cầu

                        Uổng khẩu vô ngôn.

            Dịch :

                        Thiền Phật  chẳng cầu

                        Uổng lời không nói.

            Đến chỗ không cầu Thiền, không cầu Phật, tức là đến chỗ viên măn tột cùng th́ không c̣n lời ǵ để nói. Đến chỗ đó vừa mở miệng là sai, là lạc về đối đăi rồi. Thế nên ngài Huyền Quang nói thương, thương lắm là thương chỗ không nói, tức là chỗ đă viên măn tột cùng.

            Thêm một Thiền sư khác, cũng đời Lư, Thiền sư Tịnh Giới. Khi cảm hứng về mùa thu, Ngài có làm mấy câu thơ:

                        Thu lai lương khí sảng hung khâm,

                        Bát đấu tài cao đối nguyệt ngâm.

                        Kham tiếu thiền gia si độn khách,

                        Vi hà tương ngữ dĩ truyền tâm.

            Dịch:

                        Thu về mát mẻ thích trong ḷng,

                        Tám đấu tài cao hát thong dong.

                        Cửa thiền những thẹn người si độn,

                        Biết lấy câu ǵ để truyền tâm.

            Mùa thu trở về, khí trời mát mẻ, thích thú trong ḷng. Những nhà thơ giỏi tám đấu tài cao liền có những câu thơ ca ngợi cái đẹp của trăng thu và khí trời mát mẻ của mùa thu. Nhưng đáng tức cười cho ông khách si độn trong nhà thiền đă có cái ǵ tràn đầy trong ḷng, vui tươi, thích thú, ông muốn đem cái an lạc đó ra để diễn tả và chỉ dạy cho người sau, song không biết làm sao v́ mở miệng là sai, mở miệng là mất rồi. Nên nói: Vi hà tương ngữ dĩ truyền tâm: không biết đem lời ǵ để truyền cho mọi người cái tâm an lành tự tại của chính ḿnh. Như vậy để nói rằng chỗ chân thật bất sanh bất diệt luôn luôn là thanh tịnh là an lạc, chỗ ấy không có lời để diễn tả, th́ làm sao mở miệng, làm sao nói? Thế nên ngài Huyền Quang nói là: thương, thương lắm, tức là chỗ không có lời.

            Tại sao lại dừng thêu? Trong nhà thiền, khi đến chỗ chân thật cứu kính, thường nói là: ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt, tức là bặt đường ngôn ngữ, không có lời để diễn tả và dứt chỗ tâm hành tức là dứt cái tâm đang t́m kiếm, đang đuổi theo sáu trần. Dứt chỗ tâm hành tức là dừng thêu chớ ǵ? Dừng được tâm đó mới là chỗ thương, thương lắm.

            Trong kinh thường giảng nghĩa hai chữ Niết-bàn, Niết-bàn tiếng Phạn là Nirvâna, và tiếng Pali là Nibbàna. Chữ Nib là không. Bana là thêu dệt. Không thêu dệt tức là không tạo nghiệp, không đan kết, không bị lôi cuốn vào ṿng luân hồi. V́ thế Niết-bàn cũng gọi là Vô sanh, tức là không c̣n đan dệt ṿng luân hồi nữa. Chỗ cô thiếu nữ không nói, dừng thêu, quả là Niết-bàn, đây là chỗ ngài Huyền Quang thích nhất, nên Ngài diễn tả bằng cảnh Xuân tươi đẹp.

            Đến đây chúng tôi mới nói ư nghĩa của toàn bài thơ. Đầu tiên là cô thiếu nữ yêu kiều đang thêu gấm, cô gái rất đẹp, gấm cô thêu cũng đẹp. Ngoài trời hoa nở rộ, chim hoàng oanh hót lảnh lót, tất cả cái đẹp hợp lại là tượng trưng cho mùa Xuân. Mùa Xuân đẹp với người thế gian trần tục, nhưng đối với người tu th́ thế nào? Cô gái đẹp nhưng cứ thêu, thêu măi, th́ đó là cái đẹp của luân hồi sanh tử, chưa đáng cho chúng ta quan tâm. Cần phải có cái đẹp khi không nói và lúc dừng thêu, đó mới thật là cái đẹp của người tu muốn t́m muốn được. Thế nên hai câu chót ngài Huyền Quang nói rằng:

                        Bao nỗi thương Xuân, thương biết mấy,

            Là khi không nói, chợt dừng thêu.

            Không c̣n một lời, không c̣n đan dệt, chính đó là chỗ ước mơ mong mỏi của người tu. Thế mà có nhiều người lại hiểu theo cái đẹp của thế tục: Cô gái đẹp đang thêu gấm, bên ngoài có hoa nở chim hót..., rồi cho ngài Huyền Quang là t́nh cảm dồi dào. Thật ra Ngài là một nhà thơ lại là một Thiền sư, nên Ngài diễn tả quá khéo léo khiến cho người hiểu lầm. Chúng ta là con cháu trong nhà Thiền phải hiểu cho rơ, thấy cho đúng chỗ này, kẻo phê b́nh theo quan niệm thế gian sẽ bị thiên hạ chê cười: Ông cha ḿnh quá hay mà con cháu th́  quá dốt.

            Vậy trọng tâm của người tu là phải làm sao đạt đến chỗ cứu kính Niết-bàn. Chúng ta quyết định phải đạt được mục đích đó, một mục đích rất đẹp, đẹp vô cùng. Và các Thiền sư Việt Nam qua các bài thơ đă diễn tả sự tu hành toàn là đẹp, đẹp như mùa Xuân!

            Để kết thúc lời nhắc nhở hôm nay, chúng tôi nghĩ rằng tất cả người tu chúng ta đều đủ phúc duyên nên mới sớm thức tỉnh chọn được con đường đẹp đẽ an lành. Từ đây về sau chúng ta phải cố gắng nỗ lực đi cho đến đích, đạt cho đến chỗ cuối cùng. Không có lư do ǵ ḿnh đă chọn được con đường tốt đẹp rồi lại lo chuyện bâng quơ không đáng để phí hết thời giờ. Đến ngày cuối cùng nếu không đạt được mục đích th́ rất là đáng tiếc. Cũng như người đang đi trên con đường dẫn đến một Kinh đô quan trọng đẹp đẽ hằng mơ ước, Kinh đô khẳng định ở đầu đường, người ấy lại dừng bước bên đường, lo bắt bướm hái hoa, rồi ngủ nghỉ dưới bóng mát cây cao qua ngày qua tháng, quên cả mục đích ḿnh nhắm tới. Cho đến một ngày nào ngă bệnh không đi được nữa, khi ấy có hối tiếc cũng đă muộn rồi. Cứu kính là phải đến Kinh đô ḿnh đă chọn, đó chính là nơi ḿnh an thân lập mạng. Bắt bướm hái hoa nào có lợi ích ǵ, chỉ uổng phí th́ giờ, lại không đạt được bản nguyện của ḿnh. Và những bậc thức giả sẽ chê cười ḿnh không có ư chí, không có nhận định chân chánh, con đường đă chọn quá hay mà hành động lại quá dở, đó là điều thật đáng trách.

            Hôm nay quí vị đến đây chúc mừng năm mới, chúng tôi không có ǵ hơn là nhắc nhở quí vị nhớ rằng con đường ḿnh đă chọn là con đường rất tốt đẹp, rất an lạc. Chúng ta hăy nỗ lực tiến trên con đường đó, làm sao một đời này nếu chúng ta chưa đến tận đích, ít ra chúng ta cũng đi được nửa phần hoặc hai phần đường. Rồi qua một đêm ngủ chúng ta lại tiếp tục đi nữa, chớ không chần chờ để mất hết th́ giờ, rồi phải chịu đau khổ như bao nhiêu người không có đủ phúc duyên như chúng ta.

            Chúng tôi mong rằng sang năm mới này, tất cả Tăng Ni cũng như toàn thể Phật tử, đồng nắm tay nhau tiến măi, đừng lùi đừng nghỉ, tiến măi trên con đường rộng lớn tươi đẹp an lành cho đến ngày đạt được  mục đích mới thôi .

]


KHỔ VUI QUA CON MẮT KẺ MÊ NGƯỜI TỈNH

XUÂN CANH NGỌ 1990

(Buổi nói chuyện với Phật tử)

Hôm nay là ngày Tết Nguyên Đán năm Canh Ngọ, quí Phật tử về đây lễ Phật và chúc Tết quí Thầy, chúng tôi đại diện cho tất cả chư Tăng ở Thiền viện Thường Chiếu có đôi lời nhắc nhở quí Phật tử trong ngày đầu năm để quí vị tiến tu trên con đường giải thoát.

            Ngày Tết Nguyên Đán là ngày quan trọng đầu năm, đi đâu hay làm điều ǵ chúng ta đều mong gặp những điều lành, mong được những kết quả tốt đẹp. Chúng tôi thấy cần phải nói rơ ư nghĩa ngày mồng một Tết đối với tất cả người tu Phật chúng ta. Ngày Tết là ngày đầu của mùa Xuân, mùa của an vui, hạnh phúc và tươi đẹp. Song cái hạnh phúc tươi đẹp đó từ đâu mà ra? Từ con người hay từ ngoại cảnh? Chúng ta cần phải thấy rơ điều này, để ứng dụng cho cuộc sống hằng ngày được hết khổ và luôn an vui. V́ thế đề tài chúng tôi nói hôm nay là “Khổ vui qua con mắt kẻ mê người tỉnh”.

            Cùng là một việc, người mê thấy là vui, người tỉnh thấy nó ra sao? Cùng là một việc, người mê thấy là khổ, người tỉnh thấy là khổ hay không? Đó là những điều mà tất cả chúng ta cần nên biết.

            Sống giữa đời này ai cũng sợ khổ, cũng muốn cầu vui. Nghe nói tới khổ, ai cũng ê chề chán ngán, nghe nói tới vui , ai cũng ưa thích mến mộ. Thế th́ muốn cái khổ đừng bao giờ đến và cái vui luôn luôn sẵn sàng chực đón, th́ chúng ta phải làm thế nào, sống thế nào cho được thích hợp? Đó là điều rất thiết yếu cho cuộc sống hằng ngày của chúng ta.

            Trước hết tôi nói cái vui của người thế tục. Thí dụ người thế gian lỡ mang bệnh ghiền thuốc hoặc ghiền rượu, khi đang thiếu nếu có ai đem đến cho điếu thuốc hay ly rượu, lúc đó họ vui hay khổ? Rất là vui, vui lớn. Đó là trường hợp ghiền mà không có tiền. Nếu ghiền lại có nhiều tiền th́ sao? Rủ bạn bè vô quán, năm bảy người ăn uống say sưa lúc đó là vui hay khổ? Lúc vô ngồi quán bạn bè chè chén thật là vui. Nhưng nghĩ kỹ, vui đối với ai mà khổ đối với ai? Nếu người ghiền rượu chỉ biết uống rượu là hạnh phúc là thú vị, khi được chè chén th́ cho là vui. Trái lại người không ghiền rượu khi thấy năm bảy người vô ngồi quán nhậu say túy lúy, th́  nghĩ đó là khổ. Vậy cái vui của người ghiền là thí dụ cho cái vui của người mê, c̣n người tỉnh thấy đó là khổ.  Như vậy ai thấy đúng? Người ghiền vào quán uống rượu cho vui là đúng. Người không ghiền thấy việc đó là tốn kém, hại sức khoẻ, lại thêm chuyện rầy rà, nên thấy là khổ. Người mê vui là khi đang mê, nhưng tỉnh lại sẽ thấy khổ. Tại sao? Thí dụ như khi vào quán, số tiền phải tốn hao cho bữa tiệc có thể giúp sống năm ba ngày. Nhưng v́ ngồi quán xài hết tiền nên phải đi làm để bù lại. Đó là khổ , vất vả về thân. C̣n khổ về tâm th́ thế nào? Nếu người có gia đ́nh vợ con mà rủ bạn bè vào quán, xài hết tiền vợ nhà cằn nhằn, hoặc ngồi quán đến nỗi say túy lúy, vợ con chán ngán, th́ thật là khổ! Từ cái tưởng lầm là vui, đưa tới cái khổ của nhiều ngày về sau. Cái vui của người mê thật sự là cái vui trá h́nh của đau khổ. Người tỉnh thấy khổ là thấy đúng lẽ thật. Chúng ta là người biết tu, là người tỉnh, nên nói tu tỉnh, biết tu là phải tỉnh. Những cái khổ mà người thế gian tưởng là vui, chúng ta nên tránh, như thế mới là thật tỉnh. Nếu chúng ta lăn vào chỗ mê đó th́ chúng ta sẽ thành kẻ mê.

            Lại có người lắm của nhiều tiền thích những thoả măn về xác thân nên hút á phiện hoặc x́ ke ma túy, họ cho đó là vui. Hút sách vừa tốn kém vừa hao ṃn sức khoẻ lâu ngày thành bệnh, sống dở chết dở. Điều họ tưởng là vui rốt cuộc lại là khổ! Thời nay các thanh niên trẻ rủ nhau đến những chỗ hút x́ ke ma túy. Khi mang bệnh rồi th́ thật là khổ! Như năm trước có một thanh niên tuổi khoảng đôi mươi, gầy ốm chỉ c̣n da bọc xương ngồi trước cổng chùa ăn xin. Hỏi ra mới biết v́ hút x́ ke ma túy nên bị cha mẹ đuổi, phải đi lang thang xin ăn, sống dở chết dở. Nếu xin được chút ít tiền th́ đi kiếm thuốc chích cho đỡ ghiền, nếu không tiền th́ nằm ngoẹo bên lề đường trông thật là đau khổ. Đó cũng v́ mê lầm lấy khổ làm vui.

            Người tỉnh sáng biết hút sách là nhân đau khổ ở ngày mai, là nhân bị cha mẹ từ bỏ, bị mọi người sợ ḿnh đánh cắp đồ đạc nên không chứa chấp. Đó là gốc của khổ đau, người thế gian không thấy khổ lại tưởng là vui! C̣n người biết tu biết đó là khổ th́ tránh ngay buổi ban đầu nên quả khổ không bao giờ đến.

            Ở thế gian c̣n một cái vui nữa mà tính chất không lương thiện: Đó là vui trên cái khổ của con người và con vật. Thí dụ như các đứa bé mười hai mười ba tuổi thường ra đồng bắt dế, bắt cá thia thia đem về cho đá lộn nhau, con nào thua th́ chạy, con ăn đuổi theo... trẻ nhỏ thích thú vỗ tay vui cười. Đó là vui trên cái khổ của con vật. Ḿnh lợi dụng sự ngu mê của con vật để đưa nó đến chỗ đánh đá lẫn nhau, cho đó là vui, trong khi con vật lại khổ.

            Đến người lớn thích chơi đá gà. Họ sắm gà ṇi, chuốt cựa cho bén rồi đem nhử cho nó đá nhau. Khi con gà nào bị đá té ngă máu me đầy ḿnh th́ người xem vỗ tay vui mừng. Đó cũng là vui trong cái ác. Tâm ḿnh tàn nhẫn trông thấy chúng sanh khổ mà ḿnh cho là vui, cái vui đó thật là thiếu đạo đức .

            Thêm cái vui chẳng hiền lành chút nào như đi xem đánh vơ đài, tức là người đánh với người, các tay vơ sĩ đánh với nhau. Chúng tôi có quen vài vơ sĩ, tôi hỏi: “V́ sao ḿnh nỡ đánh người đến ngă đo ván, như vậy có lợi ích ǵ mà ḿnh tàn nhẫn đến thế?” Người vơ sĩ thưa: “Thưa Thầy khán giả độc lắm, ḿnh đánh nhẹ nhẹ th́ họ la ó, họ nói ḿnh cuội. Nếu ḿnh đánh cho ngă th́ họ vỗ tay vui cười.”

            Như vậy chúng ta vui thích trong cái khổ của con vật, như con dế con gà đá nhau, đến cái khổ của con người đánh đập nhau đến té ngă. Thế th́ tâm chúng ta có hiền không? Vui trên sự đau khổ của con người, con vật có phải là vui thật chăng? Cho nên người Phật tử chúng ta luôn luôn đặt cái vui của ḿnh trên cái vui của người, làm cho người vui th́ ḿnh mới vui, nếu người khổ th́ ḿnh không vui bao giờ. Vui trên cái khổ của người là cái vui phi đạo đức, cái vui của người mê không phải của người tỉnh.

            Lại thêm một cái vui nữa rất là tàn nhẫn. Như mấy chú bé c̣n nhỏ mười lăm mười ba tuổi đi đâu hay xách cái giàn thun hay cái ná theo, hoặc văn minh hơn th́ mang những cây súng nhỏ để khi thấy mấy con chim đậu trên cành th́ nhắm bắn, nhiều khi hai con chim, con trống con mái đang đậu rỉa lông cho nhau, kêu ríu rít rất là dễ thương, mà ḿnh nhắm bắn nó. Khi bắn trúng một con té nhào xuống th́ vỗ tay vui mừng. Thử hỏi khi bắn một con vật ngă xuống, đó là hành động tốt hay xấu? Làm một việc xấu một việc ác mà vui hay sao? Chẳng những người bắn vui mà những người đứng chung quanh cũng vui, cũng vỗ tay khen nữa. Vui trong cái chết chóc, vui khi giết được con vật, đó là quá ác phải không?

            Từ việc xem thường cái khổ của con vật lần lần đưa đến xem thường cái khổ của con người. Thí dụ như có người quen giựt đồ móc túi, khi giựt được vật ǵ về nhà họ vui lắm, kiếm ăn được, nhưng người mất của th́ rất  khổ. Đến người ăn trộm cũng vậy, lén vào nhà lấy trộm được của người, khi về rất là vui mừng, không nhớ đến cái khổ của người bị mất trộm. Lấy được càng nhiều của th́ càng hỉ hạ vui mừng, c̣n người mất nhiều của th́ khổ đến mức nào? Đến việc cướp của, có khi đi đến giết người. Cướp của càng nhiều th́ càng mừng rỡ vui cười, trong khi ấy có người mất mạng hoặc tan nhà nát cửa. Vui trên đau khổ của người khác là quá tàn ác không c̣n một chút lương tâm. Thế mà ở thế gian có những người vui như vậy, đó là những người mê. Nếu người tỉnh th́ không nỡ ḷng nào lấy cái khổ của người làm cái vui cho ḿnh. Thế nên người biết tu th́ phải tỉnh, tỉnh th́ mọi hành động gây tổn thương đau khổ cho người cho vật, chúng ta phải tránh.

            Lại có những người buông lung chạy theo sắc dục, cho đó là vui. Như những thanh niên đuổi theo năm bảy cô thiếu nữ, nếu được các cô thương th́ họ tưởng là giỏi, là người tài hoa ai cũng mến yêu. Nhưng không ngờ đuổi theo sắc dục là khổ: Khổ về thân xác bệnh hoạn, khổ về tinh thần, chuyện gia đ́nh rối rắm mất cả hạnh phúc. Hoặc giả có những người có gia đ́nh mà c̣n t́nh ư lôi thôi, nay đổi chồng, mai đổi vợ. Khi thay đổi họ tưởng là vui, nhưng không ngờ mỗi lần đổi thay là mỗi lần đau khổ. Có gia đ́nh là có con cái, nếu người cha hay người mẹ đổi  thay th́ con cái bơ vơ khổ sở v́ thiếu cha hay thiếu mẹ. Thế nên cái vui ích kỷ của một người làm khổ lây đến nhiều người. Đó là sự lầm lẫn của thế gian, chuyện không vui tưởng là vui.

            Rồi đến những người có máu cờ bạc, cho việc ngồi vào ṣng bạc là vui. Ngồi ṣng đánh đỏ đánh đen, hoặc khi thua th́ sạch túi, hoặc khi được th́ về đăi đằng bà con. Họ cho đó là vui, cờ bạc cho là thú vui! Nhưng người không cờ bạc, biết rơ tai hại của cờ bạc, cho đó là khổ. Người đời thường nói: Cờ bạc là bác thằng bần. Ai say mê cờ bạc th́ phải tán gia bại sản tan hoang sự nghiệp, đó là nhân của đau khổ. Như vậy cái vui của người thế gian, kiểm lại có cái vui nào là chân chánh, là thật đâu!

            Thế nên người biết tu, biết đạo rồi phải tránh xa tứ đổ tường, đừng dính vào bốn tấm vách tửu sắc tài khí đó. Ấy là cái vui thật sự, vui v́ không dính vào cái khổ, vui v́ không làm phiền khổ ai.

            Kế đến người biết tu vui trong những việc mà người đời tưởng là khổ. Thí dụ như ăn chay. Người mới tập ăn chay hai ngày hoặc bốn ngày mỗi tháng sẽ thấy khổ v́ nuốt khó trôi lại dễ xót  ruột. Nhưng biết ăn chay quen rồi ḿnh sẽ vui. V́ sao? V́ ḿnh không có giết mạng súc vật để bồi bổ xác thịt của ḿnh. Ngày ḿnh ăn chay là ngày ḿnh hănh diện không giết con vật nào, là ngày ḿnh vui, v́ không làm đau khổ chúng sanh. V́ thế cái vui của người ăn chay là biết tránh cái khổ cho con vật. Nếu chúng ta không thể ăn chay trường th́ ít ra cũng dùng chay hai ngày hoặc bốn ngày mỗi tháng. Những ngày này bảo đảm ḿnh không có giết con vật nào, ḿnh vẫn sống mà không làm khổ loài vật, th́ đời sống đó mới có giá trị, mới thật tốt lành. Đừng nghĩ ngày ăn chay là ngày bắt buộc. Ngày ăn chay người ta bán cá rẻ quá nên mua về bỏ vào hũ rộng lại, để mai mốt sẽ ăn. Nếu tính như vậy là c̣n ích kỷ chưa phải  thật ăn chay. Ngày ăn chay chúng ta phải thấy là ngày ḿnh tránh được tội, làm được điều tốt, không sát hại chúng sanh, cho nên ḿnh vui, cái vui thật sự.

            Thêm cái vui nữa là biết tiết dục tức là không ham muốn nhiều. Trong sách thiền thường dạy người tu được định Sơ thiền gọi là Ly sanh hỉ lạc. Tức là do ĺa ngũ dục nên sanh hỉ lạc. Ngũ dục là tài, sắc, danh, thực, thụy, hay là sắc thanh hương vị xúc. Khi  ĺa được năm món dục này th́ ḿnh vui.

            Thế nên cái  vui của người biết tu và cái vui  của người thế gian ô nhiễm khác nhau. Người thế gian đuổi theo cái vui trong cái khổ của chúng sanh, c̣n người biết tu vui khi không làm chúng sanh đau khổ, không làm những điều không cao thượng. Người tu hành vui khi thoát khỏi những điều trần tục tầm thường, đó gọi là cái vui thoát tục. Có những người trẻ tuổi sống vui khi xa ĺa tứ đổ tường, khi ăn chay, khi sống thoát tục lại bị người khác phê b́nh là ngu! Không uống rượu, không cờ bạc bị chê là ngu, c̣n uống rượu cờ bạc lại cho là khôn! Nhưng sự thật ai khôn ai ngu? Ghiền rượu ghiền á phiện x́ ke ma túy làm tốn hao tiền của, lại mang bệnh, tự chuốc khổ chuốc họa vào ḿnh sao gọi là khôn được. Biết tránh những cái khổ những cái họa, không để phiền lụy cho ḿnh cho người, đó mới thật là khôn.

            Trong kinh Phật có dạy:

                                    Sắc thanh hương vị xúc

                                    Tất cả những pháp này,

                                    Khả lạc, hỉ , khả ư,

                                    Khi nào chúng hiện hữu,

                                    Thế giới với chư thiên,

                                    Xem chúng là khả lạc.

                                    Khi chúng bị hoại diệt,

                        Mới thấy chúng là khổ.

                            Bậc thánh thấy là lạc,

                             Khi có thân đoạn diệt,

                             Đây hoàn toàn trái ngược

                        Điều mọi người được thấy.

                             Điều người khác gọi lạc,

                             Bậc thánh gọi là khổ,

                                    Điều người khác gọi khổ,

                        Bậc thánh biết là lạc.

                                    Hăy xem pháp khó biết,

                        Kẻ không thấy, mê mờ.

                                                (Tiểu Bộ Kinh trang 111 tập I)

            Phật dạy:

            Sắc thanh hương vị xúc, tức là ngũ dục, tất cả những pháp này người đời cho là vui là vừa ư. Chẳng những người đời mà cả chư Thiên cũng xem ngũ dục là vui. Khi ngũ dục mất đi mới thấy là khổ.

            C̣n bậc Thánh thấy vui khi có thân này mà đoạn diệt được những nhiễm trước theo dục lạc, đoạn diệt được những mầm khiến phải tái sanh. Như vậy cái vui của Thánh và cái vui của phàm hoàn toàn trái ngược nhau. Cái vui của phàm th́ Thánh gọi là khổ, cái vui  của Thánh th́ phàm cho là khổ. Thí dụ như người tu khổ hạnh ăn mặc đơn sơ, ngồi thiền dưới cội cây, những người thích ăn chơi cho người tu như vậy là ngu, không biết thụ hưởng, chịu khổ làm ǵ? Trái lại những vị Thánh thấy người say sưa rượu chè cho là không khôn chút nào! Thế nên nếu nh́n với con mắt thánh th́ những điều thế gian cho là vui, chúng ta biết nó là khổ. Những điều người thế gian gọi là khổ như ăn chay, tu hành đơn giản, bậc Thánh lại cho là vui. Như vậy ở đời phải khéo biết cái nào là vui thật để vui, cái nào là vui trá h́nh của đau khổ để tránh. Như thế mới không mê mờ chạy theo cái vui thế tục.     

            Đến đây chúng tôi nói thẳng cái vui của người tỉnh, tỉnh hoàn toàn. Người tỉnh vui khi tâm hồn an lành thanh tịnh. Những nơi ồn náo hoặc những cuộc vui nhộn nhịp làm cho tâm hồn không an ổn, người tỉnh thấy là khổ. V́ thế người biết tu khi ngồi yên dưới cội cây, nh́n trời mây, cỏ cây hoa lá, chính lúc đó tâm hồn ḿnh an lành thanh tịnh, đó là vui. Niềm vui này không làm tổn hại cho ai, không mất tiền của, cũng không mất sức khỏe. Đó là cái vui thứ nhất.

            Đến cái vui thứ hai là khi làm lợi ích cho nhiều người. Người tu càng làm cho nhiều người được lợi ích, được bớt khổ th́ càng vui. Vui trong an vui hạnh phúc của người th́ vui này mới lâu bền.

            Đến cái vui thứ ba của người tu là khi chiến thắng được giặc phiền năo. Giặc phiền năo là ǵ? Giả sử có ai đi ngang ḿnh nói cạnh khóe một câu, tức thời ḿnh nghe nóng lên muốn trả lời một câu cho xứng đáng, nặng như nhát búa... Nếu ngay đó biết đây là phiền năo, là tội, ḿnh dừng lại không phát ngôn, rồi từ từ nguội xuống. Khi nguội rồi, người biết đạo thấy vui v́ đă thắng được cơn nóng giận của ḿnh. C̣n nếu ḿnh nói một câu cho chát chúa, thế nào người ta cũng trả lại một câu nặng hơn. Qua lại một lúc thành đấu khẩu rồi đến đấu vơ, chỉ làm khổ cho nhau, chớ có lợi ích ǵ! Thế nên người tu chỉ vui khi thắng được giặc phiền năo. Ḿnh sẽ được an ổn, không làm mích ḷng ai, gặp ai ḿnh cũng vui cười. Thắng được giặc phiền năo là gốc vui chân thật, thua nó là gốc đau khổ. Nhiều người thế gian thấy rất đáng thương, khi nghe ai nói lời ǵ trái ư liền trả lại ngay cho xứng đáng và mạnh hơn mới hài ḷng. Ngờ đâu ḿnh làm cho người giận là gieo nhân không tốt. Tưởng như thắng là được yên, nhưng ḿnh đă gieo hờn vào ḷng người th́ họa ắt sẽ đến.

            Cái vui thứ tư của người tu, cao siêu hơn, là cái vui bỏ bóng nhận đầu. Trong kinh Lăng Nghiêm đức Phật dạy ngài A-nan: Có một người tên Diễn-nhă-đạt-đa, một sáng nọ cầm gương soi mặt, nh́n thấy mặt mũi trong gương rơ ràng. Kế anh úp gương lại, mặt mũi nh́n thấy khi năy mất tiêu, anh hoảng hốt nói: Tôi mất đầu rồi, tôi mất đầu rồi. Anh phát điên bỏ chạy khắp xóm làng. Đó là cái điên của người nhận bóng quên đầu. Sự thật đầu có mất bao giờ! Chỉ mất bóng thôi mà tưởng là mất đầu nên anh hoảng hốt điên cuồng. V́ thế người biết tu là biết bỏ bóng nhớ đầu. Đầu mặt trong gương là bóng, mất nó ḿnh rờ lại thấy đầu mặt vẫn c̣n nguyên. Bỏ bóng nhớ đầu mới là niềm vui chân thật của người biết trở về cái thật không đuổi theo bóng.

            Kế đến là cái vui của người cùng tử lang thang nghèo khổ gặp lại cha. Đây là câu chuyện trong kinh Pháp Hoa: Có anh chàng khi c̣n bé đă bỏ cha ra đi. Anh lang thang nghèo khổ, ăn xin đầu đường xóù chợ từ xứ này qua xứ khác. Một hôm anh thức tỉnh nhớ lại cha t́m về quê hương. Cha anh lúc bấy giờ là một trưởng giả giàu có. Anh gặp được cha, cha nhận anh là con rồi trao sự nghiệp lại cho anh. Đó là vui tuyệt! Qua câu chuyện “Người cùng tử gặp cha”, người tu chúng ta hiểu như thế nào? Từ xưa đến giờ chúng ta sẵn có ông Phật ở trong nhà mà chúng ta quên nên cứ chạy theo cái bóng, tức là những vọng tưởng của ḿnh, rồi tạo nghiệp. Nghiệp dẫn chúng ta đi trong luân hồi sanh tử từ đời này đến kiếp khác, lang thang khổ đau không cùng không tận. Nay thức tỉnh chúng ta biết đó là bóng đă dẫn ḿnh đi trong đau khổ, chúng ta phải trở về ông Phật của ḿnh. Trở về gặp Phật của ḿnh gọi là cùng tử gặp cha. Lúc ấy ḿnh giàu có sung sướng, đó gọi là cái vui của cùng tử gặp cha.

            Cái vui kế là: cái vui của kẻ lạc loài trở về cố hương. Có một số người đang ở quê hương rất an lành, nhưng bất thần nghe theo sự xúi giục của ai đó (ma vương) họ ra đi lang thang từ xứ này qua xứ khác nhiều tháng nhiều năm. Không có công ăn việc làm, họ phải chịu đói rét khổ sở. Một ngày kia chợt thức tỉnh họ muốn trở vềø cố hương, lại rủ nhau cùng về. Về đến cố hương tất cả đều gặp lại thân bằng quyến thuộc, sống ở quê hương rất an lành, sung túc, các khổ đau lạc loài, thiếu thốn lang thang không c̣n nữa. Đó là cái vui của người trở về cố hương. Nơi quê hương đă sẵn mọi tiện nghi tốt đẹp, đó là quê hương pháp thân, quê hương này không bao giờ có khổ đau, không bao giờ có sanh tử. V́ quên quê hương nên chúng ta bị vô minh phiền năo xúi giục, dẫn đi lang thang trong ṿng sanh tử. Giờ đây thức tỉnh trở về quê hương, bỏ đi nếp sống lang thang. Ngược ḍng trở về với Pháp thân, tức là trở về cố hương, trở về quê hương muôn đời th́ hết những khổ đau vất vả của nhiều năm tháng trước. Đó mới  chính là cái vui chân thật.

            Như vậy chúng ta tu là được vui hay bị khổ? Tu là vui. V́ thế chúng ta phải nôn nả gắng sức trở về chỗ vui đó, chẳng lẽ chúng ta sống măi trong buồn khổ sao? Dù cho được phước đức sống trong gia đ́nh đầy đủ ngũ dục tài sắc danh lợi, nhưng cũng không thoát khỏi bệnh hoạn già chết. Dù chúng ta có hưởng cái vui của sự giàu sang sung túc đến đâu, dài lắm cũng chỉ mấy mươi năm thôi, rồi ngày qua ngày cũng vô thường bại hoại. Chỉ khi nào chúng ta thoát khỏi khổ sanh tử, đó mới là cái vui chân thật lâu dài.

Để kết luận chúng ta thấy người thế gian không sáng suốt nên lấy cái khổ của người làm niềm vui cho ḿnh. Là người sáng suốt, chúng ta không bao giờ chấp nhận cái vui trên đau khổ của người khác. Người thế gian không biết nên lấy cái vui tạm bợ cho là chân thật. Nhưng khi biết rồi th́ cái vui tạm bợ không đáng để chúng ta mê say, mà chúng ta phải trở về t́m cái vui chân thật. Và cái vui này chỉ có nơi người biết tỉnh giác.

            Thế nên chúng ta phát tâm tu là phát nguyện trở về nguồn an vui trong đời này và nhiều đời sau nữa. Muốn được như vậy chúng ta phải cố gắng tu, nghĩa là luôn t́m cái vui trong thanh tịnh, trong sự tỉnh giác, không đeo đuổi giành giật cái vui thế tục. Đạo Phật đă đưa chúng ta đến chỗ an vui, nên chúng ta nguyện tiến tu suốt đời, càng lớn tuổi càng phải tiến nhanh hơn, v́ khổ sanh tử đă tới gần kề rồi. Nếu không t́m được cái vui chân thật th́ khi vô thường đến làm sao chúng ta trở tay cho kịp!

            Đạo Phật là đạo diệt khổ và đem lại sự an vui cho tất cả mọi người, là chỗ nương tựa để chúng ta trở về cố hương, gặp lại ông cha của ḿnh, tức là trở về với cái thật, cái vui thường hằng vĩnh cửu.

            Vậy bước sang năm mới chúng tôi chúc tất cả quí Phật tử một năm đầy an vui của người tỉnh giác.

]


NHỮNG CHƯỚNG NẠN CỦA ĐỨC PHẬT

TẤT NIÊN CANH NGỌ (1991)

            Trước khi vào đề tài, tôi nêu lên vài câu chuyện nhỏ để quí vị thấy rơ sự việc chúng tôi nói hôm nay. Có nhiều người nói năm nay tuổi tôi xấu nên xảy ra nhiều chuyện không tốt. Từ lâu tôi nghĩ rằng tuổi không quan trọng mà chính hành động và tư tưởng mới quan trọng nên tôi không để ư đến tuổi nhưng nhiều người lại cho đó là đúng sự thật. Nếu đúng th́ chắc mỗi năm chúng ta phải tốn tiền coi lịch đàng hoàng rồi cúng sao giải hạn. Đó là điều chúng tôi không chấp nhận.

            Cuộc đời mỗi người chúng ta đều có khi thăng khi trầm, có lúc được hanh thông, có khi gặp những điều bất hạnh, nhưng đối với tôi, tôi không thấy có ǵ gọi là bất hạnh. Ở đời không thể nào  chúng ta có một cuộc sống b́nh yên măi mà phải có khi lên, khi xuống, như vậy cuộc đời mới có giá trị. Như khi đi con đường Đà Lạt, chúng ta không buồn ngủ là nhờ đi qua đèo, chúng ta thường tỉnh để nh́n cảnh đẹp. Cảnh đẹp là do có xuống dốc lên đèo, đời chúng ta có hay đẹp cũng là nhờ khi thế này khi thế khác, nếu cứ b́nh b́nh hoài th́ giống như đi đường bằng phẳng miền Tây, xe chạy một lúc là buồn ngủ. Như vậy không có ǵ gọi là bất hạnh hay xui rủi, chẳng qua đó là nhân duyên trong cuộc đời, trong tương đối phải như vậy. Lại chính những khi thăng trầm chúng ta càng thấy rơ ḿnh hơn. Khi thăng chúng ta không tự hào, không ngạo mạn, khi trầm chúng ta không buồn, không khổ, đó là có tiến trên đường tu. Trái lại khi thăng th́ hănh diện, khi trầm th́ than thở th́ thật là ḿnh chưa ra ǵ! Thế nên những đổi thay là những cơ hội để người tu thấy rơ ḿnh hơn, biết ḿnh đă tiến được bước nào chưa, nếu tiến được, đó là điều đáng mừng, nếu không, đó là điều đáng xấu hổ trên đường tu.

            Hôm nay là ngày cuối năm, quí vị thấy năm xui của tôi đă chấm dứt chưa? Thật ra ai nói tôi xui rủi cũng được, nhưng riêng tôi, tôi thấy mỗi năm đều có những cái  hay, cái dở theo nhau. Thí dụ như năm nay tôi muốn đi ra Bắc để t́m thêm tư liệu  th́ lại có phương tiện, đi về được b́nh an, người đời cho đó là may. Ở đời không có một chiều, cần yếu là chúng ta không bi quan khi gặp những bất hạnh, cũng như không lạc quan khi thấy những việc tốt đến với ḿnh. Chúng ta phải luôn thấy được ḿnh trước hoàn cảnh thuận hay nghịch, đó là chúng ta biết tu. Như vậy tôi đă kiểm điểm sơ lược chuyện cũ của riêng cá nhân tôi trong năm nay.

            Đến đây tôi đề cập đến chuyện xa hơn, đó là chuyện của đức Phật, tất cả Tăng Ni và Phật tử nghe, rồi lấy đó làm gương tu học. Nếu chúng ta chỉ một chiều nh́n đức Phật là một đấng đại hùng, đại lực, đại từ, đại bi, toàn năng, toàn trí..., đời của Ngài hoàn toàn không có chuyện ǵ đáng buồn đáng vui cả, đó là chúng ta lư tưởng hoá đời sống đức Phật, chớ sự thật không phải như thế. Chúng ta phải nh́n đức Phật qua những hoàn cảnh thuận nghịch trong đời sống thực tế để xem Ngài xử sự như thế nào, rồi từ đó chúng ta thu nhặt những kinh nghiệm, hun đúc ư chí, và trở thành những con người cứng cỏi thấy rơ được lẽ thật; nếu không, nhiều khi chúng ta hay than thân trách phận, nghĩ rằng đức Phật ra đời giáo hóa dễ quá, c̣n chúng ta sao gặp đủ mọi điều khó khăn... Vậy đề tài chúng tôi nói hôm nay là “Những chướng nạn của đức Phật”.

            Đức Phật c̣n chướng nạn sao? Thế gian thường nói: ‘‘Phật c̣n vương tám nạn, huống là người sao khỏi tai ba.” Nghĩa là Phật bị tám nạn, c̣n người chỉ ba tai ách thôi. Phật c̣n nạn nhiều hơn chúng ta nữa! Hiểu như vậy chúng ta mới có cái nh́n rơ ràng.

            Trước tiên tôi nói những chướng nạn của đức Phật qua cái nh́n của phàm phu và Nhị thừa để quí vị đừng có những lầm lẫn khác. Từ trước đến nay đa số người học Phật nghĩ rằng đức Phật là một đấng tṛn đầy tất cả công đức, nên trên đường hoằng hoá Ngài không vấp phải chướng ngại. Vậy hôm nay chúng ta đi sâu vào vấn đề để t́m xem đức Phật gặp những chướng nạn nào trên đường hoằng hóa của Ngài. Tôi chia ra: trước là chướng nạn bên ngoài, kế là chướng nạn bên trong.

            Nói đến chướng nạn bên ngoài, tôi trích một bài trong kinh Tứ Thập Nhị Chương. Trên đường giáo hóa, một hôm vào buổi sáng, đức Phật một ḿnh mang bát đi khất thực trong thôn. Tại thôn ấy có một người Bà-la-môn, v́ đệ tử của ông đă theo Phật qui y quá đông, nên khi thấy Phâït ôm bát đi khất thực, ông liền đi theo sau Phật và gọi tên Phật chửi măi. Đức Phật vẫn im lặng đi, Phật im lặng chừng nào ông càng tức chừng nấy. Đến đầu đường ông chạy đến trước chận Phật lại, ông hỏi: Sa-môn Cù-đàm, Ngài có điếc không? Đức Phật trả lời: Không.

- Ông không điếc tại sao ông không nghe tôi chửi?

            - Có nghe.

            - Nghe sao ông không trả lời?

            Đức Phật dùng thí dụ nói: Giả như nhà ông có lễ lớn, sau buổi lễ thân nhân ra về, ông đem quà tặng, nếu những người ấy không nhận th́ quà đó thuộc về ai?

            Người Bà-la-môn đáp: Tôi tặng, người ta không nhận th́ về tôi chớ về ai.

            Phật bảo: Cũng thế, ông chửi mà ta không nhận th́ lời chửi đó đâu có dính dáng ǵ đến ta.

            Người Bà-la-môn đành im lặng trở về.

            Đó là trường hợp thứ nhất, đức Phật bị người ta chửi mà vẫn điềm đạm. Khi người ấy tức quá nhịn không nổi, hỏi Ngài có điếc không mà làm thinh th́ Ngài đáp là Ngài nghe. Nhưng tại sao không căi? V́ Ngài nghe mà không nhận, cũng như người đem quà tặng chúng ta, nếu chúng ta không nhận th́ của đó đâu có dính ǵ với chúng ta và quà đó vẫn c̣n nguyên là của họ. Như vậy quí vị có thể lấy bài kinh này làm bài kinh nhật tụng để tu học. Nếu có người chửi, quí vị có lặng lẽ đi và khi họ hỏi tại sao không trả lời th́ quí vị nói thế nào? Chúng tôi thấy đây là một bài kinh mà người tu chúng ta không bao giờ quên được.

            Một lần nữa, cũng trên đường giáo hóa, hôm ấy đức Phật đi khất thực một ḿnh, gặp một người Bà-la-môn khác cũng theo sau chửi Phật, chửi măi mà đức Phật vẫn lặng lẽ đi, không đối đáp ǵ cả. Ông tức quá, đến đầu đường ông chận Phật, đức Phật dừng lại, trải tọa cụ ngồi. Ông hỏi: Sa-môn Cù-đàm  thua tôi chưa?

            Đức Phật trả lời:       

Kẻ hơn th́ thêm oán,

Người thua ngủ chẳng yên,

Hơn thua hai đều xả,

                            Ấy được an ổn ngủ.

            Như vậy quí vị thấy, nếu hỏi chúng ta thua chưa th́ chúng ta nói thế nào? Có lẽ sẽ nói: Tôi nhịn đó chớ không phải tôi thua đâu. Ráng nhịn chớ trong ḷng c̣n tức lắm nghĩa là có cơ hội sẽ trả thù. Trái lại đức Phật b́nh tĩnh trả lời: Kẻ hơn th́ thêm oán, nghĩa là nếu ḿnh hơn th́ kẻ bị thua oán ḿnh.

            Người thua ngủ chẳng yên: nếu nghĩ rằng ḿnh thua th́ tức, ngủ không được. Quí vị nhớ lại khi nào căi với ai mà chịu lép một, hai câu, khi về nhà tối đó ngủ ngon không? Cứ nhớ phải đáp câu nào cho hay hơn, nặng hơn, nghĩ hết câu này đến câu khác, so sánh, suy tính... nên rồi mất ngủ.

            Hơn thua hai đều xả: bỏ cả hơn, cả thua, cả hai đều bỏ hết.

            Ấy được an ổn ngủ, tức là an ổn ngủ một giấc thật ngon.

            Như vậy sở dĩ chúng ta mất ăn mất ngủ là tại điều ǵ? Tại những hơn thua, được mất! Khi được cũng ngủ không yên, mất cũng ngủ không xong. Hơn người, khi trở về vẫn c̣n hằn học nhớ ḿnh nói câu đó hay, hành động đó giỏi, c̣n nếu thấy thua th́ bực tức ngủ không được. Trái lại đức Phật gác ra ngoài việc hơn thua nên Ngài an ổn tự tại, không buồn, không bực. Bài kinh trên trích trong kinh A-hàm.

            Như vậy quí vị thấy đă hai lần đức Phật bị Bà-la-môn chửi, kêu tên chửi chớ không phải nói xa nói gần như chúng ta hiện nay, thế mà đức Phật vẫn thản nhiên và c̣n nói lên những lời đạo lư cho người ta thức tỉnh.

            Trên đây là cá nhân chửi, tiếp đến là tập thể chửi. Sau khi đức Phật thành đạo chưa lâu, có lẽ khoảng bốn năm năm, khi ấy Ngài c̣n trẻ, một hôm Ngài đi giáo hóa đến một vùng có một người Bà-la-môn giàu có lại giỏi về tướng số và sanh được một cô con gái thật đẹp. Vừa gặp Phật ông liền xem tướng, thấy gần đủ ba mươi hai tướng tốt của Phật ông trầm trồ khen, rồi vội vă trở về báo tin cho vợ biết là có một người tướng thật tốt, nếu ở thế gian sẽ làm vua Chuyển luân. Vợ chồng ông từ lâu muốn t́m một người rể xứng đáng, nay gặp người này, ông thật vừa ḷng. Nghe xong bà bảo ông dẫn bà đến gặp đức Phật. Khi ấy đức Phật khất thực xong, Ngài ngồi dưới cội cây thọ trai. Hai ông bà đến gặp lúc Phật đang thọ trai, ông chỉ cho bà thấy những tướng tốt của Ngài, rồi hai ông bà cùng đồng ư nói thế này: “Ngài Cù-đàm, chúng tôi có một đứa con gái đẹp lắm, xin gả cho Ngài.” Nghe đến đó đức Phật liền đáp: “Ông nói con gái của ông đẹp, nhưng dưới mắt người tu chúng tôi, tất cả người dù đẹp dù xấu cũng chỉ là một đăy da chứa toàn đồ hôi hám đâu có giá trị ǵ.” Khi đó có một đứa thể nữ đi theo, nghe được lời này, nó về thuật lại cho cô tiểu thơ nghe, cô rất tức giận, từ trước đến nay chưa có ai dám khinh chê cô, nay Sa-môn Cù-đàm dám chê cô là một đăy da hôi thúi, cô thề sẽ trả thù. Sau đó vua nước Kosambi đi hỏi cô làm vợ, và cô được làm thứ hậu. Một hôm đức Phật đi giáo hóa đúng vào xứ cô ở. Nghe tin Ngài đến, đó là cơ hội hiếm có để cô trả thù, cô thuê những người hung bạo trong vùng đón Phật, dặn khi thấy đức Phật tới th́ cả đoàn nam nữ vây quanh chửi đến khi nào đức Phật đi chỗ khác mới thôi.

            Lần này đức Phật đi có ngài A-nan đi theo. Hai thầy tṛ vừa vào xứ đó, bỗng dưng một nhóm người cả nam lẫn nữ xông ra chửi, đua nhau chửi. Đức Phật vẫn thản nhiên như không có việc ǵ, nhưng ngài A-nan th́ chịu không nổi nên mới thưa: Bạch Thế Tôn, thôi chúng ta đi chỗ khác.

            Đức Phật hỏi: Đi đâu A-nan?

            - Bạch Thế Tôn, chúng ta qua nước Đề-xá.

            -Nếu đến nước đó mà dân chúng cũng cư xử giống như dân ở đây th́ ông nghĩ sao?

            - Bạch Thế Tôn, chúng ta qua thành Hoa Thị.

            - Nếu đến đấy mà dân chúng cũng cư xử như thế này th́ ông nghĩ sao?

            - Bạch Thế Tôn, chúng ta đến nơi nào mà người ta không bạc đăi chúng ta như ở đây, như là về thành Tỳ-xá-ly hay là thành Vương Xá chẳng hạn.

            Đức Phật liền đặt câu hỏi: Tại sao dân chúng thành Vương Xá, thành Tỳ-xá-ly lại ưu đăi chúng ta?

            Ngài A-nan thưa: Bạch Thế Tôn, v́ dân chúng ở đó đă từng nghe Thế Tôn dạy, họ biết rơ chánh pháp và họ có trí tuệ phân biệt được hành động nào là thiện, hành động nào là tội lỗi, do đó họ rất chiêm ngưỡng đức Thế Tôn, thôi chúng ta về đó đi.

            Đức Phật liền hỏi: A-nan, giả sử có người thầy thuốc giỏi bậc nhất có thể đăng bảng trước cổng rằng: ở đây chỉ trị bệnh cho những người bệnh nhẹ và không bệnh, c̣n ai bệnh nặng xin mời đi nơi khác, có như vậy không A-nan?

            - Bạch Thế Tôn, không.

- Tại sao?

- V́ thầy thuốc hay cần trị cho những người bệnh nặng, nếu thầy thuốc có lương tâm mà bệnh nặng không trị giùm, chỉ trị bệnh nhẹ và không bệnh th́ thật là vô lư.

- Này A-nan v́ sao dân chúng ở xứ này lại đối đăi tệ bạc với chúng ta như vậy?

              - Bạch Thế Tôn, v́ ở đây họ chưa từng nghe Phật thuyết pháp, họ không biết hành động nào là thiện, hành động nào là ác, nên họ mới xử tệ với chúng ta.

              - A-nan, Như Lai ra đời v́ làm lợi ích cho mọi người, v́ cứu khổ chúng sanh, cũng như người thầy thuốc hay là cốt để trị những người đang đau khổ v́ bệnh trầm trọng. Dân chúng ở đây như những người bệnh nặng, Như Lai cần phải có mặt để giáo hoá họ, c̣n dân chúng ở thành Tỳ-xá-ly hay Vương Xá giống như những người bệnh nhẹ không cần đến Thế Tôn, chỉ những đệ tử của Thế Tôn cũng đủ để giáo hóa họ rồi; nơi này nếu Thế Tôn không đích thân đến th́ ai dám đến đây giáo hóa?

            Nghe như thế ngài A-nan liền thưa: Bạch Thế Tôn, ở đây đâu có ai cần nghe Thế Tôn giảng, họ xử sự quá tệ bạc th́ làm sao giáo hóa?

            Đức Phật giải thích thêm: Ví như người bệnh nặng, thân thể và tâm hồn họ bị giày xéo đau khổ nên tư cách và ngôn ngữ họ không b́nh thường, v́ thế họ có những lời nói xúc chạm đến thầy thuốc, nếu người thầy thuốc thương bệnh nhân như con th́ phải bỏ qua những điều đó để trị lành bệnh cho họ. Cũng như thế, dân chúng đây là những người bệnh nặng nên họ có những thái độ bất thường, chúng ta nên giáo hóa họ chớ không nên bỏ họ.

            Nghe Phật nói đến đó những người côn đồ liền thức tỉnh, họ đồng thưa: Bạch Thế Tôn, chúng tôi xin lỗi Ngài, chúng tôi thật là người bệnh nặng, mong Ngài ở lại đây giáo hóa chúng tôi.

            Đức Phật và ngài A-nan ở lại, chỉ hơn một tuần lễ họ đă qui y rất đông, không kém thành Tỳ-xá-ly hay Vương Xá bao nhiêu.

            Như vậy quí vị thấy đức Phật có bị chửi không? Một hay nhiều người chửi? Khi bị chửi đức Phật có buồn giận không? Đó là những hành động chúng ta phải nhớ măi, phải lấy làm kim chỉ nam trên đường tu, chớ nếu vừa nghe một lời chửi mắng đă nổi cáu lên, bỏ đi th́ chắc trên đường tu, trên đường giáo hóa chúng ta không làm được ǵ cả. Đó là ba trường hợp Phật bị chửi. Hai trường hợp trước là chửi đơn lẻ, c̣n trường hợp thứ ba là cả tập thể chửi.

            Tiếp đến là những chuyện vu cáo. Khi đức Phật ở tại Tinh xá thuyết pháp, một hôm giữa hội chúng đông đảo Tăng Ni và cư sĩ, bỗng một cô gái ḍng Bà-la-môn tên Chiên-giá-ma-nạp, có lẽ do những người Bà-la-môn ghét đức Phật xúi giục, cô độn bụng to lên rồi giữa đám đông cô đứng lên vỗ bụng nói: “Tôi đến đây nghe pháp, ngài Cù-đàm phạm tội tư thông với tôi nên hiện tôi đang mang thai.” Tiếp đó cô vỗ bụng và chửi mắng ầm ĩ. Quí vị nghĩ việc này thật quá sức tưởng tượng phải không? Vu cáo giữa đại chúng Tăng Ni Phật tử th́ c̣n mặt mũi nào ngó ai. Thế mà đức Phật vẫn b́nh tĩnh, không nói một lời. Cô gái vỗ bụng trong giây lát chợt dây đứt, những ǵ cô độn trong bụng rơi xuống hết, ngay đó mọi người đều thấy rơ lời vu cáo của cô. Việc này thật quá sức tưởng tượng của chúng ta, trên đường hoằng pháp hiện nay, chưa có ai gặp trường hợp như vậy.

            Song cũng chưa đặc biệt bằng trường hợp sau đây.

            Khi đức Phật về Tinh xá Trúc Lâm, tất cả vua quan và dân chúng đều tới để nghe Ngài giảng dạy mỗi ngày, do đó có một số người Bà-la-môn theo qui y với đức Phật, v́ thế có một người Bà-la-môn tên là Tôn-đà-lợi rất tức giận, muốn hại Phật. Ông cho con gái ông, cô gái cũng đẹp, đi nghe giảng, được vài lần rồi ông giết con gái, giữa đêm lén đem vào đất tinh xá Trúc Lâm, đào lỗ chôn. Đến sáng ông đi thưa quan là con gái ông đi nghe giảng pháp ở tinh xá Trúc Lâm, nay bỗng dưng mất tích không thấy về. Quan quân mới đi t́m, ông cũng đi theo. Ông dẫn họ đi khắp tinh xá, đến một chỗ có dấu đất mới lấp ông bảo họ đào lên th́ thấy thây của con ông bị giết chôn tại đó. Ông liền lớn tiếng buộc đức Phật phạm hai tội: dâm và sát, tức là tư thông với con gái ông rồi giết để phi tang.

            Quí vị thấy câu chuyện không phải là thường, giết con rồi lại tố cáo Phật phạm tội. Trong trường hợp này không có ǵ minh chứng được nên đức Phật chỉ lặng thinh. Tinh xá Trúc Lâm thuộc nước Ma-kiệt-đà, vua nước Ma-kiệt-đà rất mến Phật nên ông cho người điều tra thật kỹ, kết quả mới biết chính ông Bà-la-môn giết con ông và đem chôn trong tinh xá, từ đó mới minh oan cho đức Phật. Vậy quí vị thấy Ngài bị tai nạn nhiều hay ít? Những chuyện xảy ra thật quá sức tưởng tượng của chúng ta, thế mà Ngài vẫn an nhiên, không tranh căi, không sợ sệt. Trên đây chỉ là những chướng nạn bên ngoài.

            Tôi kể tiếp những chướng nạn bên trong, tức là nội bộ. Tất cả quí vị đều biết Đề-bà-đạt-đa là em chú bác của Phật, Đề-bà-đạt-đa là con nhà chú, Phật là con nhà bác. Đề-bà-đạt-đa xuất gia và tu chứng được ngũ thông chớ không phải là thường. Khi chứng được ngũ thông rồi, ông mới dùng thần thông cảm hóa Thái tử A-xà-thế. Ông có mộng làm giáo chủ nhưng c̣n đức Phật là ông không làm giáo chủ được nên muốn hại đức Phật. Ông mới xui Thái tử A-xà-thế cướp ngôi vua cha rồi thả voi say giết Phật, nhưng không được. Cuối cùng một hôm đức Phật đi ngang chân núi, ông ở trên núi xô đá lăn xuống, đức Phật bị dập một ngón chân nên ông phạm tội “xúc Phật thân huyết”. Lại thêm những chuyện như ông rủ chư Tăng bỏ đoàn đi theo ông v.v... nghĩa là ông tạo sự rối loạn, trong chúng lúc đó không c̣n yên ổn được, sau cùng phải nhờ hai ngài Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên đi giải thích cho chúng, họ mới trở về với Phật. Quí vị thấy thật là đáng buồn, một người vừa là em chú bác, đó là chỗ t́nh thân, vừa là tu hành chứng được ngũ thông, không phải tu “lơ mơ” như chúng ta hiện nay, vậy mà muốn hại Phật và phá ḥa hợp Tăng, làm điên đảo cả chúng.

            Đến người thứ hai là Tỳ-kheo Thiện Tinh, con Phật (con của một vị thứ phi, không phải con bà Da-du-đà-la) cũng theo Phật xuất gia. Vị này rất thông minh, thuộc làu mười hai bộ Kinh, tu chứng được Tứ thiền, nhưng ông lại chê đức Phật, chê giáo lư của Phật không hay, không đến cứu kính, ông bác cả nhân quả, cả Niết-bàn. Nhiều lần đức Phật khuyên, ông vẫn đinh ninh như vậy. Quí vị thấy đáng buồn không? Con trong nhà đồng thời tu khá, thuộc kinh cũng nhiều, lại làm chướng ngại Phật.

            Đến người thứ ba là Tỳ-kheo Thiện Túc, theo Phật xuất gia một thời gian, một hôm ông đến Phạm Chí Dà-bà nói lỗi đức Phật. Ông nói: Đại sư, tôi không theo ngài Cù-đàm nữa, v́ Ngài không nói cho tôi nghe những điều tôi cần nghe và Ngài cũng không hiện thần thông cho tôi thấy, v́ thế tôi xin theo Đại sư. Ông lại kể tám lỗi của Phật cho ngoại đạo nghe. Nghe xong, đến một hôm gặp đức Phật, ông ngoại đạo mới thuật lại cho đức Phật. Như vậy quí vị thấy đệ tử Phật yêu cầu Phật phải hiện thần thông cho thấy, Phật không hiện thần thông liền chê Phật và bỏ đi theo ngoại đạo. Câu chuyện này xuất xứ từ kinh Trường A-hàm.

            Thêm một người nữa là Tỳ-kheo Man Đồng Tử, ông xuất gia theo Phật một thời gian rồi yêu cầu Phật phải khẳng định thế giới này là thường hay vô thường, sau khi nhập Niết-bàn rồi c̣n hay hết v.v... Phật phải giải thích điều đó rơ ràng cho ông nghe, ông mới tu theo Phật, nếu Phật không giải thích ông sẽ hoàn tục. Đức Phật mới quở ông là ngu si và đức Phật dùng thí dụ mũi tên bắn vào người (kinh Tiễn Dụ), đó là trường hợp thứ tư.

            Đến trường hợp thứ năm là hai nhóm Tỳ-kheo ở nước Câu-xá-di tranh đấu nhau, khi đó Phật dùng bài kệ khuyên:

                             Nếu dùng tranh dứt tranh,

                        Rốt cùng không thấy dứt,

                          Chỉ nhẫn hay dứt tranh,

                                Pháp ấy đáng tôn quí.

            Phật dạy: Nếu dùng tranh đấu để dứt tranh đấu, rốt cuộc không thể dứt được, chỉ nhẫn nhục mới hay dứt được tranh đấu, pháp đó là pháp tôn quí nhất. Quí vị nghĩ các thầy Tỳ-kheo sẽ nói thế nào? Các Tỳ-kheo thưa: “Thế Tôn là Pháp chủ, nay xin dừng, kia nói con, con đâu thể không nói lại”, nghĩa là Ngài đừng có can thiệp, đừng có khuyên nữa, họ chửi con th́ con chửi lại. Quí vị thấy Phật đầy đủ phước đức như vậy mà đệ tử của Ngài có nghe Ngài trăm phần trăm không hay là họ căi nhau, Ngài khuyên cũng không được? Thế nên đức Phật bỏ đi vô rừng. Đó là tôi kể chưa hết, tôi chỉ trích một số câu chuyện cho quí vị nghe. Đến kết luận đức Phật nói bốn câu kệ cho biết trong đời của Ngài, Ngài đă chịu những ǵ:

                            Ta như voi giữa trận,

                             Hứng chịu cung tên rơi,

                             Chịu mọi sự phỉ báng,

                             Ác giới rất nhiều người.

                                                           (Pháp cú 320)

            Ngài nói Ngài giống như con voi to ở giữa trận, bên này bên kia tên bắn rớt trúng, rồi mâu giáo đâm trúng, chịu đựng đủ tất cả sự phỉ báng, tại sao? V́ người thế gian ác giới nhiều quá! Bốn câu kệ nói lên cái thảm của Ngài là chịu đựng đủ mọi chuyện.

            Như vậy quí vị thấy cuộc đời của Ngài không nhàn hạ như chúng ta tưởng, Ngài cũng chịu đắng cay trăm bề. Đó là tôi dẫn cái nh́n đức Phật với con mắt phàm phu và Nhị thừa. Con mắt phàm phu và Nhị thừa thấy Phật cũng khổ và thấy xót xa cho Phật.

Đến cái nh́n với con mắt Phật thừa (Phật thừa chớ không nói Đại thừa) th́ lại khác hẳn. Những cái gọi là tai nạn đó có đúng là tai nạn  không? Đầu tiên tôi dẫn kinh Pháp Hoa, trong phẩm Đề-bà-đạt-đa đức Phật kể rằng: Đề-bà-đạt-đa không những một đời này mà nhiều đời trước Phật ở nơi nào hành hạnh Bồ-tát ông cũng đều tới phá Phật. Phật bảo: Nhờ Đề-bà-đạt-đa mà ta chóng thành Phật, rồi Ngài thọ kư Đề-bà-đạt-đa sau sẽ thành Phật.

            Tôi đặt nghi vấn cho quí vị thấy. Thông thường chúng ta nghe nói ai ngăn trở phá hại người tu hành, nhất là tu hạnh Bồ-tát làm lợi ích chúng sanh, th́ phải đọa địa ngục. Đề-bà-đạt-đa mỗi  lần phá hại Bồ-tát  th́ phải rơi vào địa ngục, trả hết tội ở địa ngục khi trở lên c̣n dư báo phải làm súc sanh rồi đến làm người si ám ngọng liệu. Vậy tại sao mỗi khi Phật ra đời đều có ông theo sau phá Phật? Vậy là ông thoát khỏi địa ngục sao? Nếu Đề-bà-đạt-đa không phải là một vị  đại Bồ-tát th́ ông rơi xuống địa ngục mất rồi, đâu có thể theo Phật hoài, đâu có thể Phật đến đâu ông đến đấy được. Mỗi lần hại Phật, hại Bồ-tát là một lần phải đọa địa ngục trăm ngàn kiếp th́ làm sao có mặt mà phá hoài? Hơn nữa lần nào ông cũng có oai quyền chớ không phải là người thường. Như vậy để biết rằng với cái nh́n của kinh Pháp Hoa, Đề-bà-đạt-đa là một vị đại Bồ-tát ứng dụng nghịch hạnh để giúp Bồ-tát chóng thành Phật. Thế nên nh́n với con mắt Phật thừa th́ thấy hạnh phúc quá! Chúng ta tu mà ai chửi chúng ta nhiều, đó là đại Bồ-tát làm nghịch hạnh để giúp chúng ta mau đạt đạo, dù phải xuống địa ngục. Đại Bồ-tát th́ đúng ra chúng ta phải lễ bái chớ đừng nói mang ơn thôi. Như vậy với cái nh́n đó chúng ta thấy rằng người làm trở ngại đường tu của chúng ta không phải là kẻ tầm thường. Chúng ta tu là làm lành, giáo hoá người làm lành, đó là điều tốt, thế gian đều thừa nhận như vậy. Nhưng có người lại hại chúng ta, chửi mắng chúng ta, vậy họ không biết tốt xấu sao? Họ làm như vậy mục đích để làm ǵ? Dĩ nhiên là để thử xem đạo lực chúng ta ra sao? Nếu đạo lực chúng ta c̣n yếu th́ phải ráng tu để mau tiến, nếu đạo lực mạnh th́ vượt qua, tức là cũng mau tiến, như vậy là cơ hội để thử thách cho chúng ta vươn lên, giúp chúng ta tiến lên. Đó đúng là Thiện hữu tri thức. Nếu người làm nghịch hạnh, chửi mắng chúng ta trên phương diện tu hành, nghĩa là người làm khổ chúng ta đă là Thiện tri thức th́ người giúp chúng ta có phải là Thiện tri thức không? Đương nhiên là Thiện tri thức. Chúng ta nh́n kẻ chửi mắng là Thiện tri thức, kẻ giúp đỡ cũng là Thiện tri thức, vậy mới là tâm b́nh đẳng đối với người phá và người giúp. Tâm b́nh đẳng mới gọi là Đại từ bi, đó là tâm Bồ-tát. Muốn đạt Phật thừa th́ phải có Bồ-tát tâm. V́ thế tất cả chúng ta tu theo Phật th́ phải hiểu rơ ư nghĩa này, có như thế trên đường tu chúng ta mới thấy không có ǵ là chướng nạn, tất cả đều là duyên hoặc thuận hoặc nghịch giúp chúng ta mau đạt đạo thôi. Vậy th́ đừng giận người này, trách người kia, hờn người nọ. Bồ-tát không thấy có người thù địch, nếu thấy có thù địch th́ không phải là Bồ-tát v́ tâm chưa b́nh đẳng, c̣n có ân có oán, chưa b́nh đẳng là chưa phải đại từ bi. B́nh đẳng mới gọi là từ bi, t́nh thương trùm khắp không có thân sơ. Thế nên tinh thần Phật thừa cho thấy người nào giúp chúng ta tu tiến th́ người đó là Thiện tri thức của ta. Thiện tri thức có khi thuận hạnh, có khi nghịch hạnh, nhưng dầu thuận, dầu nghịch cũng đều là Thiện tri thức, vậy có ai mà chúng ta chán ghét đâu? Hiểu như vậy quí vị mới thấy việc tu hành của chúng ta rộng răi thênh thang vô cùng tận.

            Đến cái nh́n của Thiền tông, trong bài Chứng Đạo Ca ngài Huyền Giác đă nói :

                        Tùng tha báng, nhậm tha phi,

                        Bả hỏa thiêu thiên đồ tự b́,

                        Ngă văn kháp tợ ẩm cam lộ,

                        Tiêu dung đốn nhập bất tư ngh́.

            Hẳn ai cũng thuộc làu bài này, nhưng không biết mấy người hành được? Chỉ thuộc lời nói chớ chưa thuộc ở công hạnh. Tôi giải thích: “Tùng tha báng, nhậm tha phi” tức là mặc người chê, mặc người chửi mắng. Tại sao mặc cho người chê bai, chửi mắng? V́ “Bả hỏa thiêu thiên đồ tự b́”, sự chê bai mắng chửi của họ giống như là cầm cây đuốc đốt thiêu bầu trời. Cầm đuốc thiêu trời th́ chừng nào trời cháy? Nếu chúng ta cầm lâu th́ thế nào? Tay chúng ta bị cháy chớ trời không bao giờ cháy. Câu này thâm sâu làm sao! Chúng ta có cái bệnh là bị ai mắng ai chửi, chúng ta liền vồ lấy lời mắng chửi đó để ăn thua. Thế th́ chẳng khác nào người ta vừa cầm đuốc quơ, chúng ta liền đưa rơm lại cho cháy bừng rồi la lên. Trái lại đức Phật hay Bồ-tát mặc người chửi, mặc người mắng, tâm vẫn thản nhiên như bầu hư không không động. Không động th́ lời chửi mắng rốt lại về ai? Chỉ bao nhiêu đó cũng thấy việc tu hành của chúng ta cao hay thấp. Nhiều khi học đạo thuộc làu, nói thao thao nhưng gặp việc th́ sân si vẫn c̣n đầy trong ḷng, đó là bệnh. Người thật tu phải theo gương đức Phật, ai chửi cũng mặc, cứ chậm răi đi, đến cuối cùng khi họ hỏi th́ trả lời một câu nhẹ nhàng mà đạo lư, như vậy mới là thật tu. Nếu tất cả quí vị Tăng Ni và Phật tử ở đây đều thuộc ḷng và ứng dụng được hai câu này th́ chắc Thiền viện tiến bộ vô cùng và quí vị đều là Bồ-tát con. Dễ quá chỉ có hai câu thôi mà ứng dụng được là Bồ-tát con. Mặc ai khen, mặc ai chê, tâm chúng ta không động th́ giống như họ cầm lửa đốt trời; trái lại tâm chúng ta động th́ giống như họ cầm lửa đốt, chúng ta cầm bổi tới mồi nên chỉ một lúc là hai người mặt đỏ hết. Ở thế gian đều như vậy cả thành ra bên nào cũng khổ, bên kia cầm lửa đốt trước rồi chúng ta cầm bổi tới mồi th́ hai bên đều cháy tiêu. Như vậy mới thấy đạo lư là dạy chúng ta làm sao cho bản thân ḿnh không khổ và cũng cứu khổ cho người. Người ta nóng cầm lửa đốt, chúng ta phải nguội để cho nó không cháy. Đốt không cháy họ buồn họ bỏ luôn, chúng ta cũng không khổ. Trái lại người mới cầm đuốc đốt, chúng ta đem bổi lại liền, rồi hai bên cùng cháy, cháy lan khắp cả, chính v́ thế mà khổ, thiền viện này phiền năo, thiền viện kia cũng phiền năo, am cốc này phiền năo, am cốc kia cũng phiền năo, đó là v́ mồi lửa với nhau chớ không chịu dập tắt. Tôi thấy chỉ cần nhớ hiểu được ư nghĩa này th́ đường tu của chúng ta tiến bộ biết bao nhiêu.

            Đến hai câu sau th́ thật là tuyệt vời:

                             “Ngă văn kháp tợ ẩm cam lộ,

                              Tiêu dung đốn nhập bất tư ngh́.”

            Nghĩa là tôi nghe giống như uống nước cam lồ, tiêu dung vào chỗ không thể nghĩ bàn. Nghe chửi mà như uống nước cam lồ ngon ngọt, quí vị có thể được như vậy không? Tôi chỉ yêu cầu quí vị thuộc ḷng hai câu trên, đừng đem bổi tới mồi là được rồi chớ như uống nước cam lồ là quá cao. Uống nước cam lồ vừa mát mẻ lại vừa ngọt ngào, nghe chửi mà mát mẻ ngọt ngào thật là Bồ-tát mới được, chớ chúng ta chưa được. V́ thế tất cả chúng ta khả dĩ ứng dụng hai câu trên được, c̣n hai câu dưới phải chờ một, hai kiếp sau mới có thể ứng dụng nổi. V́ xem như uống nước cam lồ nên mới tiêu dung vào chỗ không thể nghĩ bàn.

            Như vậy theo cái nh́n của những bộ Kinh thuộc Phật thừa hay cái nh́n của Thiền tông, cũng gọi là Tối thượng thừa th́ đều thấy những khó khăn trở ngại là những điều tốt giúp chúng ta tiến lên. Ngài Huyền Giác c̣n nói thêm:

                        Quán ác ngôn thị công đức,

                        Thử tắc thành ngô thiện tri thức,

                        Bất nhân xan báng khởi oan thân,

                        Hà biểu vô sanh từ nhẫn lực.

            Nghĩa là chúng ta phải xem lời nói ác của người là công đức cho chúng ta. Người ta chê chúng ta, chửi chúng ta đó là chúng ta tăng trưởng công đức chớ không có mất. Quí vị xét xem có phải không? V́ nếu bị người chửi mà chúng ta vẫn an nhiên không động th́ người chung quanh sẽ đánh giá chúng ta như thế nào? À, cô ấy tu thật, cô ấy tu hay, như vậy là công đức rồi. Trái lại nghe người mắng một câu, chúng ta t́m một câu khác nặng hơn đáp lại th́ đó là công đức hay là ǵ? Đó là quán ác ngôn thị tội lỗi! Nghe lời nói ác mà chúng ta an nhiên không hờn không oán, đó mới là công đức. Vậy ai nói lời dữ với chúng ta tức là đem công đức đến cho chúng ta, phải không? Thấy là phải th́ cố gắng thực hành. Nếu xét lời nói ác là công đức th́ người nói những lời ác ắt là Thiện tri thức. Như đoạn trước tôi nói: Chê bai hay giúp đỡ đều làm cho chúng ta tiến, vậy đều là Thiện tri thức, không có người xấu người dở, trong xă hội này ai cũng giúp cho chúng ta tiến cả.

            Ngài giải thích tiếp: “Bất nhân xan báng khởi oan thân” nghĩa là đừng do chê bai mà khởi tâm đây là kẻ oán, kia là người thân. C̣n thấy có oán có thân th́ “Hà biểu vô sanh từ nhẫn lực” nghĩa là c̣n thấy có kẻ oán, người thân th́ đâu đủ tiêu biểu sức từ bi nhẫn nhục của chính ḿnh.

            Như thế người tu, nếu ai chửi một câu đáp lại một câu, đó là hay hay dở? Được người khen hay chê? Trái lại nếu người chửi mà chúng ta im lặng không giận không hờn th́ người ta khen hay chê? Dĩ nhiên người ta sẽ khen: Cô ấy tu thật, thầy ấy tu thật. Chúng ta muốn tu thật chớ không ai muốn tu dối. Vậy chúng ta phải làm sao? Nên an nhiên đừng giận, đừng nóng, như thế mới là thật tu và mới tăng trưởng công đức. Quí vị kiểm lại xem trong lúc làm Phật sự, tất cả chúng ta có gặp những điều như đức Phật gặp chưa? H́nh như chưa. Hiện giờ người ta tốt với chúng ta quá, nếu có nói ǵ cũng nói bóng nói cạnh chút chút thôi, chớ chưa có ai chửi thẳng vào mặt. Trong chúng đây quí vị thấy có huynh nào gọi tên ḿnh chửi không? Chưa có, chỉ nói cạnh chút chút thôi mà đă có lần muốn xăn tay áo rồi, như vậy sức từ nhẫn đến mức nào? Hẳn là bằng Trương Phi!

            Tóm lại tất cả chúng ta là người tu, dầu là xuất gia hay tại gia, đều muốn tăng trưởng công đức, tiêu diệt tội lỗi; chính tội lỗi là cái chướng đưa chúng ta xuống ba đường ác, c̣n công đức là duyên tốt đưa chúng ta đến giải thoát. Hai việc quá rơ ràng, một đưa lên, một kéo xuống. Có người nào tu mà nói “tôi cầu xuống địa ngục” không? - Không, nhất định là giải thoát. Vậy điều nào kéo chúng ta xuống, nhất định là phải dừng, như thế mới thật là người cầu giải thoát. Thường mỗi khi đắp y, nhất là y Tỳ-kheo, quí vị đọc bài kệ “Thiện tai giải thoát phục”: lành thay chiếc áo giải thoát. Đắp y là mặc áo giải thoát, giải thoát tức là đi lên. Thế nhưng ai động đến là nổi sân đó là đă phản bội với bản nguyện từ buổi đầu.

            Thế nên hôm nay nhân ngày cuối năm, tôi kiểm điểm lại những điều dở mà chúng ta c̣n vướng để tất cả mọi người đều cố gắng tinh tấn tu hành, làm sao mỗi năm qua là một năm chúng ta vươn lên, chớ không thể qua một năm chúng ta vẫn đứng y chỗ cũ, hoặc là lùi lại th́ thật đáng trách. Người tu là người đă nguyện bỏ hết cuộc đời thế tục, cầu đạo giải thoát, mỗi năm qua là mỗi năm bị thời gian giũa ṃn mạng sống, mạng sống đă ṃn mà hạnh nghiệp không tăng những điều hay, lại chứa thêm những điều dở, như vậy đời tu sẽ đi lùi chớ không tiến được. Vậy tất cả chúng ta là đệ tử Phật th́ phải học gương của Phật. Tôi chỉ cần quí vị học đến mức bị người chửi mà vẫn điềm đạm trả lời như đức Phật, đó cũng là quá hay rồi, chớ không đề cập đến tập thể hoặc đủ các việc vu oan giá họa.

            Tôi nhắc lại, gương đức Phật rơ ràng đó, nếu tất cả chúng ta quyết chí tu hành th́ chúng ta phải nhớ để vươn lên, noi theo con đường của Ngài chớ đừng lùi lại đi lối khác. Đó là điều tôi thấy cần phải nhắc nhở, không phải chỉ riêng cho quí vị mà cũng chính là nhắc cho tôi, trên đường tu lúc nào chúng ta cũng phải vươn lên chớ không dừng lại ở một chặng nào.

            Riêng tôi lâu lâu kiểm lại, thấy thiên hạ sân nhiều quá tôi cũng giật ḿnh. Người này mới nổi đốm lửa nhỏ xíu thôi chưa phải là cây đuốc mà người khác đă vội đem bổi tới mồi liền nên lửa phiền năo cháy rực hoài. Như vậy con đường tu là lư tưởng chúng ta đă chọn để tiến, sao chúng ta lại phản bội nó, không giữ đúng như lời hứa ban đầu: Nguyện tiến trên con đường giải thoát không lui. Nhất là mỗi đêm quí vị tụng bài phát nguyện, Cây Kiếm Bát-nhă tay không rời, nhưng quí vị có rời lúc nào chưa? Trong một năm nay quí vị rời mấy lần? Hay là đến giờ lên chùa mới cầm kiếm, khi ra khỏi chùa th́ ném cây kiếm đâu mất, đến khi gặp phiền năo bị nó trói, không cắt đứt được, đó là tại rời cây kiếm, không giắt nó sẵn nơi lưng, nên quí vị thua trận măi!

            Thế nên trên đường tu không ǵ hơn là chúng ta hằng nhớ bản nguyện ban đầu và ư chí khi chúng ta xuất gia. Chúng ta quyết tu th́ phải quyết sửa những điều dở xấu mà Phật đă chê trách và phải hành những điều hay mà Phật đă hành, như vậy mới xứng đáng là đệ tử Phật, đệ tử xuất gia hoặc tại gia. Nếu không th́ Phật dạy một đàng, chúng ta làm một ngả, kết cuộc Phật đi một đường, chúng ta đi một nẻo. Nếu đường Phật đi là đường giải thoát th́ đường chúng ta đi là đường trầm luân. Như vậy chúng ta tự làm khổ ḿnh và cũng không lợi ích ǵ cho ai hết.

            Hôm nay nhân ngày cuối năm tôi dẫn những câu chuyện của đức Phật để tất cả quí vị biết rơ, rồi tất cả chúng ta cùng noi gương Ngài mà tiến tu để mai kia quí vị sẽ nối bước theo đức Phật, không sai một bước nào, như thế mới thật là xứng đáng.

]


VẺ ĐẸP TUYỆT TRẦN

XUÂN TÂN MÙI (1991)

(Tăng Ni)

Hôm nay nhân ngày Tết Nguyên Đán năm Tân Mùi (1991), Tăng Ni và Phật tử về đây chúc mừng năm mới và yêu cầu chúng tôi có những lời nhắc nhở đầu năm, để tất cả quí vị nhớ cố gắng tu tiến trên đường giác ngộ, nên tôi sẽ có ít lời với quí vị. Hôm nay chúng tôi nói đề tài lạ một chút, nghe dường như phàm tục nhưng thật không phải trần tục, đó là “VẺ ĐẸP TUYỆT TRẦN”.

            Mở đầu tôi dẫn lời cổ đức đă nói:

                        Sơn cùng thủy tận nghi vô lộ,

                  Liễu ám hoa minh biệt nhất thôn.

            Nghe hai câu trên quí vị cảm thấy thế nào? Tôi tạm dịch :

                        Núi cùng sông hết nghi không lối,

                        Liễu biếc hoa tươi riêng một thôn.

            Người xưa từ đức Phật đến chư Tổ, đều nh́n thấy cuộc sống của con người trên trần gian này, hay nói gọn là kiếp người, ai ai cũng như nhau. Có mặt trên đời rồi chờ ngày chết, trăm người như một không có lối nào khác; dù sang trọng quyền quí hay nghèo hèn cực khổ,  cũng chỉ lăn lộn trong cuộc đời mấy mươi năm rồi cùng đi theo con đường chung là trở về cơi tử, v́ thế nói:

            “Sơn cùng thủy tận nghi vô lộ”, nghĩa là khi đi trên đường núi đến chỗ cùng rồi, nguồn sông đến chỗ nghẽn rồi, người ta nghi ngờ là hết lối đi, tất cả người đều thấy như vậy và đều phải chấp nhận như vậy. Nhưng nếu ai có phúc duyên, biết tu, biết t́m một lối thoát th́ sẽ đến:

            “Liễu ám hoa minh biệt nhất thôn”, tức là liễu biếc hoa tươi riêng một thôn. Khi đến chỗ cùng đó không phải là hết, nếu người biết tẽ một lối khác th́ sẽ thấy ở bên kia c̣n một thôn đầy liễu biếc hoa tươi đẹp đẽ, thôn đó không giống con đường cùng, con đường tuyệt vọng của người đời, mà là một lối tẽ đặc biệt tràn đầy những cái tươi đẹp sáng sủa không ai ngờ, không ai biết.

            Như vậy người đời ai cũng nghĩ ḿnh sanh ra, lớn lên có gia đ́nh, con cái, lo cho con cái lớn khôn rồi sửa soạn chết. Trăm người như một đều đến chỗ không c̣n lối thoát, nhưng rồi quen đi nên ai  cũng thấy lẽ đương nhiên là như vậy, phải chấp nhận chớ không có cách nào khác. Nhưng phúc duyên thay những người con Phật! Đức Phật đă vạch cho chúng ta một lối thoát, lối thoát đó Ngài đă đi qua nên Ngài chỉ cho chúng ta cùng tiến. V́ thế ngày nay, người xuất gia hoặc tại gia được duyên lành theo Phật, khi đến chỗ sơn cùng thủy tận lại có một lối tẽ khác đẹp đẽ vô cùng. Lối tẽ đó là VẺ ĐẸP TUYỆT TRẦN, không c̣n dính một mảy bụi chớ không phải tuyệt trần  theo nghĩa thế gian thường hiểu.

            Như thế quí vị mới thấy người đời thật đáng thương! Khi sanh ra người ta cứ nghĩ lo cho hết bổn phận rồi chết, chấp nhận con đường cùng ấy. Đáng thương hơn nữa là khi sắp chết cũng không biết số phận ḿnh sẽ ra sao, chết rồi đi đâu? Đường trước mờ mờ mịt mịt, v́ thế Tổ Qui Sơn có câu: ‘‘Tiền lộ mang mang vị tri hà văng”, tức là đường trước mờ mờ không biết về đâu! Như thế niềm đau khổ thứ nhất là đi đến chỗ cùng, chỗ chết mà không biết làm sao thoát. Niềm đau khổ thứ hai là khi chết thân phận ḿnh sẽ ra sao, mờ mịt không biết đâu mà lường trước. V́ không biết nên khi sống mải lo cho cái sống, đến lúc ngă ra chết đành phó thác cho số phận, số phận đó là sẽ đi theo nghiệp. V́ không biết nên nghe đến cái chết người ta kinh hoàng sợ hăi. Nếu chúng ta biết đạo rồi th́ đường trước có mờ mờ hay không? Dĩ nhiên là không. Tại sao? Nếu chưa ra khỏi sanh tử, chúng ta đă biết chọn một lối đi trên con đường lành, nên khi mất thân này chúng ta tiến trên con đường lành, cơi người cơi trời. Như vậy đối với người tu, dù chưa tiến đến chỗ giải thoát trọn vẹn, ít ra cũng đă chọn được con đường đi, nên khi sắp nhắm mắt chúng ta yên ḷng, biết rằng con đường trước sáng sủa hơn hiện tại, sẽ đẹp đẽ vô cùng.

            Tóm lại tất cả chúng ta là người biết đạo, biết tu, th́ trên đường đời chúng ta không phải là người tuyệt cùng bặt lối, trái lại chúng ta có một lối rẽ, một lối thoát rất đẹp đẽ mà đức Phật đă chỉ dạy cho chúng ta. Lối thoát đẹp đẽ đó đưa chúng ta đến chỗ an lành muôn thuở, chớ không phải chỉ là cái đẹp đẽ trong một thời gian ngắn ngủi tạm bợ rồi tan hoại. Thế nên cái đẹp mà tôi kể ở đây là “vẻ đẹp tuyệt trần”, chữ tuyệt trần theo nghĩa thông thường là đẹp hơn tất cả, nhưng ở đây chúng tôi dùng chữ tuyệt trần là dứt sạch không c̣n một mảy trần. Ḷng trần đă sạch th́ cái đẹp đó mới là tuyệt trần. Nói như thế để tất cả quí vị ư thức rằng chúng ta được duyên lành đi trên đường tu giải thoát là chúng ta đă có một lối đi đẹp đẽ, sáng sủa, vui tươi tràn đầy hạnh phúc ở ngày mai chớ không phải chúng ta đi trên đường cùng, đi trong lối nghẽn và cũng để mừng rằng đời chúng ta không phải đen tối, không phải mù mịt như bao nhiêu chúng sanh khác.

            Tiếp đến tôi dẫn những bài quí vị đă học để quí vị nhớ lại kỹ con đường ḿnh đi qua. Đầu tiên là tôi dẫn một ít bài trong mười mục chăn trâu để tất cả quí vị thấy con đường chúng ta đi qua đẹp như thế nào. Đa số người thế gian cho người tu chúng ta là kẻ bất hạnh v́ không được quyền hưởng những niềm vui thế gian, chúng ta xây mặt với hạnh phúc trần gian. Nhưng họ không ngờ chính v́ đa mang hạnh phúc trần gian nên kết cuộc tất cả người đời đều phải châu mày than thở. Thoạt nh́n dáng bên ngoài ai cũng có vẻ tươi tắn, tỏ ra vui cười, nhưng nếu đi sâu vào từng cá nhân, từng gia đ́nh, chúng ta thấy thế gian khóc nhiều hơn cười. Cuộc đời có ǵ vui đâu, nhưng lỡ rồi phải cắn răng mà chịu, chớ không biết làm sao hơn! Thấy chúng ta là người không đua đ̣i, không đuổi theo dục lạc thế gian, họ tưởng chúng ta là kẻ thiệt tḥi nhưng không ngờ chúng ta lại có một lối đi đẹp đẽ lâu dài. Tuy nhiên không phải bước vào lối đó là mọi việc đều như ư. Quí vị nhớ mục số một trong mười mục chăn trâu, thằng chăn có được thảnh thơi không? Trâu hoang cắm đầu chạy, trâu mạnh mười, sức thằng chăn chỉ có một, trâu lại đương hoang, muốn chinh phục, muốn kềm giữ nó là cả một công tŕnh. Nếu thằng chăn dùng trí khôn ngoan, dùng mọi phương tiện nào dây dàm cột mũi, nào roi đánh th́ sẽ điều phục được nó. Trái lại nếu thằng chăn quá dốt, quá khờ cứ chạy đuổi theo con trâu mà trong tay không dây, không roi th́ chắc không thể điều phục nổi nó. Thế nên trong giai đoạn đầu người chăn trâu là người cực khổ. Khác hơn ở thế gian, do thả tâm đuổi theo dục lạc nên được một chút dục lạc nào người ta cho đó là hưởng hạnh phúc. C̣n chúng ta là người xoay lại chăm chăm lo chăn con trâu của ḿnh nên không đoái nh́n, không t́m hưởng dục lạc thế gian, v́ vậy mà hai quan niệm khác nhau. Chăn trâu trong giai đoạn đầu là khó khăn, là nhọc nhằn khổ sở nhưng khi chăn được, tức là giai đoạn xỏ được mũi rồi lôi cổ nó theo ḿnh, th́ từ đó về sau từ từ sẽ nhẹ nhàng. Đến đây tôi dẫn bài kệ chăn trâu số sáu tức là mới quá bán phần trên đường tu mà đă được sung sướng như thế này, quí vị nghe th́ thấy rơ ràng là tràn trề hạnh phúc.

                        Kỵ ngưu dĩ lệ dục hoàn gia,

                        Khương địch thanh thanh tống văn hà,

                        Nhất phách nhất ca vô hạn ư,

                        Tri âm hà tất cổ thần nha.

            Khi chúng ta điều phục được trâu, rồi ngồi trên lưng trâu thuần thục cỡi về nhà vào buổi chiều th́ c̣n ǵ sung sướng hơn! Gió mát trời trong, ngồi trên lưng trâu cầm ống sáo vừa thổi vừa ca thật là vui vô hạn, “Nhất phách nhất ca vô hạn ư”, niềm vui không thể kể hết! “Tri âm hà tất cổ thần nha”, những người tri âm của ḿnh đâu cần phải mở miệng nói. Bài này tôi tạm dịch:           

                        Cỡi trâu thong thả trở về nhà,

                        Tiếng sáo vi vu tiễn văn hà,

                        Một nhịp một ca vô hạn ư,        

                        Tri âm đâu phải động môi à.

            Như vậy quí vị thấy chỉ mới quá bán phần trên đường tu mà đă vui vẻ như thế, huống nữa là măn đường tu th́ vui đến mức nào. Có phải là chúng ta sống một đời tràn trề hạnh phúc hay không? Thế nên nếu chúng ta chịu khó nỗ lực chăn được con trâu của ḿnh th́ mai kia trên đường tu, trên đường về quê hương, chúng ta là kẻ thảnh thơi nhất, an nhàn nhất, nh́n thấy toàn là hoa tươi cỏ đẹp chớ không c̣n những nỗi buồn bă khổ đau của kiếp người. Đấy là “biệt nhất thôn” tức là một làng riêng, làng chúng ta trở về đó. Trên đây là nói về bức tranh chăn trâu thứ sáu của Thiền tông.

            Bức tranh chăn trâu thứ sáu của Đại thừa có khác một chút:

                        Lộ địa an nhiên ư tự như,

                        Bất lao tiên sách vĩnh vô câu.

                        Sơn đồng ổn tọa thanh tùng hạ,            

                  Nhất khúc thăng b́nh lạc hữu dư.

            “Lộ địa an nhiên ư tự như” tức là con trâu nằm dưới đất trống yên ổn nghỉ ngơi.

            “Bất lao tiên sách vĩnh vô câu” là không nhọc nhằn cầm roi và dây mũi.

            “Sơn đồng ổn tọa thanh tùng hạ”, thằng chăn ngồi dưới cội tùng thong thả.

            “Nhất khúc thăng b́nh lạc hữu dư”, hát một bản nhạc thăng b́nh, vui không c̣n ǵ hơn. Quí vị thấy niềm vui đến đây thật không thể diễn tả hết được. Bài kệ này chúng tôi tạm dịch:

                        Đất trống ngủ yên ư tự an,

                        Chẳng cần roi mũi, măi thanh nhàn.

                        Tùng xanh dưới cội mục đồng nghỉ,

                        Một bản thăng b́nh rất hân hoan.

            Vừa rồi là h́nh ảnh một chú mục đồng ngồi trên lưng trâu thổi sáo, đến đây là h́nh ảnh một chú mục đồng ngồi dưới cội tùng hát bản nhạc thăng b́nh, tức là đến thời thái b́nh thịnh trị, mọi người đều vui ca thong thả, không c̣n bận rộn lo âu ǵ cả.

      Như vậy kiểm lại trên đường tu, nếu tất cả chúng ta nỗ lực chịu cực chịu khổ qua nửa phần đường, trong nửa phần đường đó:

- Giai đoạn thứ nhất là vất vả trăm phần,

- Giai đoạn thứ hai sự vất vả c̣n khoảng tám mươi phần,

- Giai đoạn thứ ba sự vất vả c̣n khoảng sáu mươi phần,

- Đến giai đoạn thứ tư c̣n khoảng bốn mươi phần,

- Đến giai đoạn thứ năm xem như hết vất vả rồi,

- Giai đoạn thứ sáu là bắt đầu thảnh thơi tự tại trên con đường trở về quê hương.

            Đó là những h́nh ảnh tôi cho là đẹp tuyệt trần, chính khi chúng ta chiến thắng được bản thân ḿnh, chiến thắng được vọng tưởng (cụ thể hoá bằng con trâu đă thuần thục, đă nghe lời và chú mục đồng ngồi trên lưng trâu trở về), lúc đó mọi sự thảnh thơi sẽ đến với chúng ta, niềm an lạc vô biên vô tận sẽ đến với chúng ta.

            Vậy con đường tu là con đường tăm tối hay là con đường tươi sáng?

- Con đường của chúng ta đi là con đường tươi sáng vô cùng, thế mà có nhiều người đi vừa hơi mỏi chân là đă muốn trở về, thật là đáng tiếc v́ chọn con đường tu tức là đă t́m được một lối đi đẹp đẽ vui tươi an nhàn tự tại.

            Tuy nhiên không có sự an vui hạnh phúc nào mà chúng ta không phải trả giá bằng mồ hôi, nước mắt. Như nhiều khi ngồi thiền phải muốn khóc v́ đau chân, hoặc ở trong chùa nhiều khi bị rầy nên khóc lên khóc xuống. Song nếu chúng ta nỗ lực cố gắng th́ ngày mai chúng ta sẽ được hưởng cảnh thanh nhàn an vui, nếu không muốn trả cái giá đó mà đ̣i hưởng cảnh an nhàn tự tại th́ chắc là không có. Ở trong đạo cũng như ở thế gian, muốn được quả vui trước hết chúng ta phải có công phu khó nhọc. Thí dụ như muốn hưởng những quả mít ngon th́ hiện tại chúng ta phải đem hạt mít ương trồng, phải bón phân, tưới nước, nhổ cỏ từ ba năm đến năm năm mới thu được kết quả, chớ không bao giờ muốn ăn mít ngon liền có mít ngon, trừ khi có tiền trong túi. Nhưng muốn có tiền cũng phải lao động đổ mồ hôi mới có được. Vậy muốn hưởng quả tốt trước hết phải chịu cực chịu khó, quả tốt mới đến được. Có nhiều người mơ tưởng rằng chùa, Thiền viện là cảnh cực lạc, cảnh thiên đường tại thế, vào đó ngày nào cũng vui, giờ nào cũng an. Hiểu như vậy e là lầm, v́ vào đó rồi c̣n phải dùng bao nhiêu công phu mới qua được những khó khăn để đến chỗ an lạc, chớ không phải vào chùa rồi mọi việc đều như ư.

            Tôi nhắc lại để quí vị hiểu con đường chúng ta chọn, chúng ta đi là con đường rất đẹp, rất tươi vui, xán lạn ở ngày mai, nhưng muốn đi đến lối rẽ an lạc đó, t́m được thôn riêng đó, chúng ta phải đi tột cùng con đường dài mới bước sang được lối tẽ này. Tôi chỉ mới dẫn hai bài thơ nói đến mục thứ sáu của mười bức tranh chăn trâu mà quí vị đă thấy đẹp đẽ như vậy. Đến đây tôi dẫn những bài quí vị vừa học trong Tuyết Đậu Tụng Cổ, tức là ngài Tuyết Đậu tụng các công án.

            Đầu tiên là công án Thiền sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn đăng đường nói với chúng rằng: Ngài nắm ḥn núi Tu-di lại, nó nhỏ bằng hạt gạo, hạt lúa. Ngài Tuyết Đậu tụng cho chúng ta nghe như thế này:

                        Ngưu đầu một, mă đầu hồi,

                        Tào Khê cảnh lư tuyệt trần ai.

                        Đả cổ khán lai quân bất kiến,

                        Bách hoa xuân chí vị thùy khai?

            Tạm dịch:

                        Đầu trâu mất, đầu ngựa về,

                        Trong vắt Tào Khê kính chẳng nhơ.

                        Đánh trống đến xem anh khó thấy,

                        Trăm hoa xuân đến nở v́ ai?

            Bài này có cái đẹp nào mà tôi đem vào đây? Ngài Tuyết Phong Nghĩa Tồn nói: Ngài nắm núi Tu-di lại nhỏ bằng hạt lúa, hạt gạo. Núi Tu-di lớn bao nhiêu? Hạt gạo lớn bao nhiêu? Nắm ḥn núi to lại bằng hạt lúa hạt gạo là để nói lên điều ǵ? Tức là dưới con mắt của Thiền sư, tất cả những tướng đối đăi lớn như núi Tu-di, nhỏ như hạt gạo... không c̣n nữa. Như vậy cái nh́n của Thiền sư đă thoát khỏi mọi tướng đối đăi của trần gian. Khi thoát khỏi mọi đối đăi của trần gian, tâm chúng ta sẽ như thế nào? Sẽ không c̣n dính một chút bụi trần. Sở dĩ chúng ta c̣n dính bụi trần là v́ c̣n ở trong đối đăi hơn thua, phải quấy, được mất, nên phiền năo theo đó dấy khởi , tâm chúng ta trở thành nhiễm ô, v́ thế gọi là trần ai. Ngài Tuyết Đậu thấy được công án này nên Ngài mới hạ câu đầu:

            ‘‘Ngưu đầu một, mă đầu hồi” tức là đầu trâu mất, đầu ngựa về, nghĩa là một câu vô nghĩa vô lư, không ai biết là ǵ, để nói lên khi con người đă thoát khỏi đối đăi th́ không có ư niệm, không có t́nh duyên theo cảnh. Thế nên nói “đầu trâu mất đầu ngựa về”, nói một cách không có lư thú để diễn tả tâm không c̣n dính mắc với cảnh.

            Đến câu thứ hai: “Tào Khê cảnh lư tuyệt trần ai” là trong gương Tào Khê không dính một mảy bụi. Nghe nói gương Tào Khê ai cũng tưởng là gương của Lục Tổ, nhưng nếu tất cả chúng ta đi theo con đường của Lục Tổ th́ chúng ta đều có cái gương riêng, gương đó cũng được gọi là gương Tào Khê. Như vậy tất cả chúng ta khi tâm dứt đối đăi th́ không c̣n dính một mảy bụi ở trong ḷng. Hiện nay nếu quí vị buông hết những được mất hơn thua v.v... th́ ḷng quí vị có phiền năo không? - Đâu c̣n tí nào phiền năo và phiền năo hết th́ tâm ḿnh trong sáng như gương không dính một mảy bụi. Khi ấy:

            “Đả cổ khán lai quân bất kiến”: đánh trống mời thiên hạ đến xem, nh́n trong gương cũng không ai thấy được một mảy bụi, cũng không ai thấy được cái gương như thế nào.

            Câu kết thúc thật là đẹp đẽ: “Bách hoa xuân chí vị thùy khai?” Nghĩa là đến mùa Xuân, trên núi, trong rừng, bên cạnh suối... trăm hoa đua nhau nở là v́ ai ? V́ quí thầy hay v́ quí Phật tử? - Không v́ ai cả. Nghĩa là Xuân đến th́ hoa nở chớ không phải v́ người này xem hoa, người kia yêu hoa mà nó nở cho họ xem.

            Như vậy khi tâm chúng ta không c̣n dính một mảy bụi th́ muôn vật đều đẹp đẽ trước mắt chúng ta, khi duyên đến tức là thời tiết đến, mùa Xuân đến th́ hoa tự nở chớ không phải v́ ai, không phải đợi chúng ta chăm sóc vun bón... Đây là một công án diễn tả tâm chúng ta khi tự tại không c̣n kẹt ở hai bên th́ kết quả sẽ tốt đẹp như thế.

            Đến công án thứ hai là công án của ngài Vân Môn. Một hôm ngài Vân Môn bảo: Ngày mười lăm về trước th́ không hỏi ông, ngày mười lăm về sau hăy nói một câu xem? Không ai đáp được, Ngài tự nói: Mỗi ngày đều là ngày tốt. Công án này hay ở điểm nào? Tất cả chúng ta đang sống trong hiện tại nhưng tâm chúng ta nhớ chuyện hôm qua, hôm kia, năm xưa, năm cũ, tức là sống ở hiện tại mà tâm lùi về quá khứ. Nhiều khi sống ở hiện tại mà tâm hướng về vị lai như ngày nay là ngày mồng một Tết mà chúng ta nghĩ tháng hai, tháng ba chúng ta sẽ phát tài hoặc tháng tư, tháng năm chúng ta đi ngoại quốc... Giờ phút hiện tại không sống th́ sống cũng như chết, chết nhưng c̣n ăn, c̣n nói, c̣n đi. Ăn, nói, đi, mà chết v́ chính hiện tại mới là sống, nhưng trong ba thời quá khứ hiện tại vị lai tâm chúng ta cứ lui về quá khứ hoặc hướng tới vị lai, mơ ước tưởng tượng mà quên mất giây phút hiện tại. Thế nên Ngài mới nói không hỏi ngày mười lăm về trước mà ngay ngày mười lăm về sau hăy nói cho một câu, không ai nói được th́ Ngài nói ‘‘mỗi ngày đều là ngày tốt”. Như thế không cần mở lịch, v́ ngày nào cũng là ngày tốt. Tại sao? Đây ngài Tuyết Đậu tụng:

                        Khứ khước nhất, niêm đắc thất,

                        Thượng hạ tứ duy vô đẳng thất.

                        Từ hành đạp đoạn lưu thủy thanh,

                        Túng quan tả xuất phi cầm tích.

                        Thảo nhung nhung, yên mịch mịch,

                        Không Sanh nham bạn hoa lan tịch,

                        Đàn chỉ kham bi Thuấn Nhă Đa.

            Tạm dịch:

                        Bỏ đi một, nắm được bảy,

                            Trên dưới bốn bên không đồng bậc.

                            Thong dong đạp bặt tiếng suối reo,

                            Phỏng xem vẽ được chim bay dấu.

                            Cỏ xanh ŕ, khói trắng bạc,

                            Không Sanh bên núi hoa rơi loạn,

                            Khảy tay làm thảm Thần Hư Không.

            Qua bài kệ này chúng ta thấy tài của ngài Tuyết Đậu diễn tả khi tâm chúng ta không c̣n kẹt quá khứ, vị lai, đó là dùng mấy chữ “bỏ đi một, nắm được bảy” nghĩa là không c̣n kẹt vào quá khứ, vị lai nữa, chỉ ngay hiện tại thôi.

            “Trên dưới bốn phương không đồng bậc” nghĩa là bốn hướng và trên dưới không có cái ǵ gọi là giống nhau. Như vậy nếu tâm chúng ta đối với thời gian không c̣n có niệm sai biệt hướng về quá khứ vị lai mà sống ngay hiện tại th́ thế nào? Tâm đă b́nh đẳng nghĩa là ngay trong phút giây này hiện tại th́ thế nào? Tâm đă b́nh đẳng nghĩa là ngay trong phút giây này

            “Thong dong đạp bặt tiếng suối reo.” Dầu cho tiếng suối reo bên cạnh, chúng ta đi rất thong thả bên bờ suối, cũng đạp được tiếng suối im bặt. Sao hay đến thế? Tiếng suối có h́nh dáng ǵ mà đạp được bặt tiếng? Đó là để nói rằng khi tâm chúng ta không c̣n niệm hướng về quá khứ vị lai, chỉ sống với hiện tại thôi, lúc đó sẽ có diệu dụng, dường như chúng ta đi từ từ thong thả mà cũng làm cho tiếng suối reo im bặt.

            “Phỏng xem vẽ được chim bay dấu”, nghĩa là thấy chim bay trong hư không, giả sử muốn vẽ dấu của nó, cũng vẽ được. Như vậy hai câu này diễn tả khi chúng ta dứt được tâm quá khứ vị lai rồi th́ ngay trong phút hiện tại này chúng ta sẽ được diệu dụng,  nó vi tế vô cùng, những bước đi thong dong làm cho suối phải im tiếng, chim bay trong hư không dường như mắt cũng thấy được dấu chân của nó. Đây lại đẹp thêm:

            “Cỏ xanh ŕ, khói trắng bạc.” Khi ấy chúng ta  thấy đây là cỏ mùa Xuân xanh ŕ như nhung, kia là đám mây khói trắng như bạc, không c̣n ǵ xấu xa đen tối nữa. Tiếp đến Ngài dẫn:

            “Không Sanh bên núi hoa rơi loạn”, tức là ngài Tu-bồ-đề ngồi  bên sườn núi im lặng mà Thiên Đế Thích rải hoa cúng dường. Tâm chúng ta đến chỗ nhất như th́ dường như không nói không làm mà tất cả chung quanh đều cảm thông, đều thấy được.

            “Khảy tay làm thảm Thần Hư Không”: chỉ khảy ngón tay, Thần Hư Không cũng hiện ra buồn thảm. Khi chúng ta tu hành đến  giai đoạn tâm được an nhiên tự tại th́ mọi diệu dụng tràn đầy trước mắt và chúng ta nh́n thấy tất cả đều hay, đẹp và nên thơ. Tôi dẫn những kệ tụng trên để quí vị thấy tương lai đẹp đẽ của con đường chúng ta đang đi.

            Sang đến Thiền sư Việt Nam của chúng ta có nh́n giống như thế không? Đây là vị Thiền sư mà tôi thường hay nhắc nhất, đó là Thiền sư Chân Không. Có vị Tăng hỏi: Khi sắc thân bại hoại th́ thế nào? Tức là người ta đến lúc chết th́ thế nào? Ngài  liền đáp:

                          Xuân khứ Xuân lai nghi Xuân tận,

                                Hoa lạc hoa khai chỉ thị Xuân.

            Tôi tạm dịch:

                        Xuân đến Xuân đi ngỡ Xuân hết,

                        Hoa nở hoa tàn vẫn là Xuân.

            Thật đẹp làm sao! Người ta thắc mắc băn khoăn hỏi sắc thân của chúng ta, đến giờ phút bại hoại th́ thế nào? Người thế gian đến giờ phút đó là khóc, là khổ đau, nhưng với Ngài th́ Ngài bảo: Xuân đến Xuân đi ngỡ Xuân hết, hoa nở hoa tàn vẫn là Xuân. Mùa Xuân có đến có đi, như hôm nay bắt đầu mùa Xuân tức là Xuân đến, ba tháng sau gọi là Xuân đi, đến rồi đi, tưởng như Xuân hết. C̣n hoa nở trong mùa Xuân, như hôm nay các cành mai đang nở, mai mốt nó sẽ tàn, nở trong mùa Xuân, tàn cũng trong mùa Xuân, như vậy sống chết vẫn ở trong cái tươi đẹp chớ không bao giờ mất. Thế là sống đẹp mà chết cũng tươi, không phải sống là vui chết là khổ. Tại sao? V́ đối với người thấy đạo sống và chết chỉ là sự sanh diệt của ḥn bọt trong biển, hợp hoặc tan cũng đều nằm trong biển, có thoát đi đâu, khi hợp lại không làm cho biển tăng lên, khi tan ra cũng không làm cho biển giảm xuống, hợp hay tan cũng thế thôi. Thế nên Thiền sư khi thấy con người lúc sắp lâm chung bồi hồi lo sợ không biết thân  phận sẽ ra sao th́ Ngài nói rơ rằng: Mùa Xuân đến, mùa Xuân đi người ta tưởng là mùa Xuân hết, nhưng hoa khi nở khi tàn, dù có hai thời, vẫn là trong một mùa Xuân. Vậy mùa Xuân ở đây là mùa Xuân măi măi chớ không phải mùa Xuân chỉ có trong thời tiết ba tháng. Như vậy để thấy rằng sự có mặt và vắng mặt của chúng ta trên trần gian này chỉ là tạm thời chớ trong cái tươi sáng vĩnh viễn, chúng ta lúc nào cũng hiện hữu, không bao giờ thiếu vắng. Đó là điều Thiền sư đă thấy như vậy.

            Đến một vị Thiền sư khác vào đời Lư, Thiền sư Viên Chiếu. Có một vị Tăng hỏi Ngài: Thế nào là nghĩa Kiến tánh thành Phật? Ngài trả lời:

                        Khô mộc phùng xuân hoa cạnh phát,

                        Phong xuy thiên lư phức thần hương.

            Tôi tạm dịch:

                        Cây héo Xuân về hoa nở rộ,

                        Gió đưa ngàn dặm nực hương mầu.

            Khi Tăng hỏi nghĩa Kiến tánh thành Phật th́ Ngài đáp: giống như là cây héo, cây khô gặp mùa Xuân về liền nở hoa. Người thế gian v́ không nhận ra Phật tánh của ḿnh nên thấy thân này có sanh, có diệt, khi sanh là vui mừng, khi diệt là khổ đau; trái lại người tu nh́n thấu được tánh chân thật của ḿnh, tức là kiến tánh, th́ thấy thân này có tàn có hoại cũng như là cây khô, khi thời tiết nhân duyên đến tức là mùa Xuân về nó vẫn nở hoa, chớ không phải mục luôn. Người tu khi ngộ đạo thấy tánh rồi th́ ngay nơi thân tầm thường, nhớp nhúa, không ra ǵ này có cái đẹp đẽ tươi sáng vô cùng, đó là ví dụ mùa Xuân về hoa nở rộ.

            Đến câu kế “Gió đưa ngàn dặm nực hương mầu”, lúc gió ở đâu thổi về đều nghe mùi hương nhiệm mầu thơm ngát mũi. Như vậy hai câu thơ này cho chúng ta thấy đường trước chúng ta đẹp đẽ làm sao, giống như mùa Xuân về hoa nở rộ, giống như gió ngàn phương thổi về mùi thơm nhiệm mầu nồng nực khắp bầu trời. Như thế quí vị thấy đẹp đẽ thơm tho là con đường chúng ta đang đi, đang tiến tới.

            Lại có vị Tăng hỏi: Thế nào là bản ư của chư Phật?

            Ngài Viên Chiêu liền đáp:        

                        Xuân chức hoa như gấm,

                        Thu lai diệp tự hoàng.

            Dịch:

                         Xuân dệt hoa như gấm,

                         Thu sang lá tự vàng.

            Câu trả lời đẹp làm sao! Mùa Xuân đến hoa nở đẹp như gấm thêu hoa, mùa thu sang lá vàng rụng. Như vậy Xuân đến, thu sang vẫn là tự nhiên, Xuân về hoa nở, thu đến lá vàng, sự vật là như thế. Bản ư chư Phật thế nào? Bản ư chư Phật là như nhiên, như Xuân về hoa nở, thu đến lá vàng, không có ǵ thêm, không niệm trần nào len lỏi vào.

            Đến Thiền sư Thiền Lăo, một hôm vua Lư Thái Tổ đến, thấy Ngài ở trong núi, Vua hỏi: Ngài ở đây được bao lâu rồi?

            Ngài trả lời:

                        Đản tri kim nhật nguyệt,

                        Thùy thức cựu Xuân thu.

            Tạm dịch:

                        Chỉ biết ngày tháng này,

                        Ai hay Xuân thu trước.

            Nhà vua liền hỏi thêm: Ḥa thượng ở đây hằng ngày làm ǵ? Ngài trả lời:

                        Thúy trúc hoàng hoa phi ngoại cảnh,

                        Bạch vân minh nguyệt lộ toàn chân.

      Dịch:

                        Trúc biếc hoa vàng đâu cảnh khác,

                        Trăng trong mây bạc hiện toàn chân.

            Ngài Thiền Lăo Thiền sư trả lời câu hỏi của vua Lư Thái Tổ về thời gian Ngài ở trong núi bao lâu là: Chỉ biết ngày nay tháng này thôi. Như vậy Ngài đang sống với niệm hiện tại (ngay bây giờ), không nhớ quá khứ, không mơ tưởng vị lai. Nếu con người được như vậy th́ hiện tại đang làm ǵ? Ngài trả lời: Nh́n trúc biếc hoa vàng, thấy trăng trong mây bạc... tất cả đều hiện cái thể chân thật của chính ḿnh, chớ không có ngoài.

            Vậy khi chúng ta tu hành đến lúc tâm ḿnh tự tại, không dính mắc một cái ǵ, lúc đó tất cả cảnh trước mắt chúng ta đều nên thơ, đều tuyệt diệu, những cảnh đẹp không thế nào diễn tả hết, những cảnh đó chúng tôi gọi là vẻ đẹp tuyệt trần, nghĩa là đẹp mà không dính một mảy bụi nào. Bụi đó ở đâu? Ở trong tâm chúng ta. Tâm không c̣n chút bụi th́ mọi cảnh trước mắt đều đẹp, đều nên thơ. Trái lại nếu tâm chúng ta c̣n bụi phiền năo th́ mọi cảnh đều là cảnh buồn, cảnh tang tóc. Như thế tất cả chúng ta tu hành là đă chọn được một con đường, con đường tươi sáng hạnh phúc ở mai sau. Chọn được rồi, hiện chúng ta đang cất bước đi, quí vị có muốn đi nhanh đến để hưởng hay không? Hay quí vị thích ngồi chơi, chần chờ trong những đám gai góc, những vũng bùn lầy? Tôi ví dụ như chúng ta là khách du lịch muốn đến một thành phố đẹp, nhưng biết rằng trên đoạn đường về thành phố phải qua những đoạn đường lồi lơm, nhơ nhớp, bẩn thỉu, quí vị nghĩ chúng ta muốn đi nhanh qua để đến chỗ tươi đẹp mà chúng ta hằng mơ ước, hay là chúng ta cứ dần dà đến chỗ nào mệt th́ ngồi chơi để ngửi mùi hôi hám của những đống rác, hay dừng lại những chỗ đất lồi lơm gai góc, ngồi xuống th́ bị đâm thủng chẳng hạn? Chắc không ai bằng ḷng ngồi ĺ măi ở chỗ nhơ nhớp gai góc khi biết rằng đến nơi kia sẽ đẹp đẽ trăm phần. Thế nên chúng ta đă có một lối đi, đă biết được kết quả sẽ là tươi sáng, đẹp đẽ th́ phải nỗ lực, không nên chần chờ, hẹn nay, hẹn mai mà phải ráng đi đến nơi, sớm chừng nào tốt chừng nấy.

            Tóm lại hôm nay là ngày đầu năm, tôi phác họa con đường đi của quí vị để thấy đó là con đường tươi sáng . Vậy mong rằng tất cả quí vị nếu không phải là người yếu hèn hay thác loạn, th́ sẽ không chần chờ, không thối lui trên bước đường toàn là hoa thơm cỏ lạ. Chúng ta phải hăng hái, cố gắng tiến đến chỗ chúng ta đă nhắm, đến mục tiêu chúng ta đă quyết đến v́ đó là nơi đẹp đẽ, tươi sáng, là nơi an lạc muôn đời. Chúng ta đâu c̣n dốt nát dại khờ ǵ mà phải dính nhiễm, căi nhau trong đám gai góc? Đánh nhau trong gai có vui ǵ đâu, dù có thắng cũng trầy da tróc vảy. Thế th́ mặc ai muốn tranh hơn thua, muốn lôi kéo... chúng ta cứ gỡ mà đi, đi thẳng đến đích cuối cùng là nơi đẹp đẽ vô hạn. Đến đó rồi mặc t́nh ngồi chơi thổi sáo hát khúc thanh b́nh, rảnh rang cỡi mây cỡi gió về rủ bạn bè cùng đi với ḿnh cho vui, chớ không lẽ lăn lộn măi trong đám gai góc bùn lầy, giành nhau những cái không đáng giành, hơn nhau những cái không đáng hơn th́ thật là uổng phí cả cuộc đời.

            Mong rằng năm nay, tôi tạm gọi là năm cuối để hướng dẫn dạy dỗ quí vị, những ǵ Kinh điển Phật Tổ dạy, tôi đem ra giảng nói cho quí vị nghe, quí vị ráng lănh hội đầy đủ và đồng thời cố gắng mạnh mẽ bước trên con đường chúng ta đang đi, đừng giậm chân tại chỗ và tối kỵ là đừng bao giờ trở bước lại. Đó là điều tôi nhắc nhở, mong tất cả quí vị ư thức được đường tu, biết ngày mai tươi sáng th́ phải nỗ lực tiến lên, không nên chần chờ nữa.

]


BIỂU TƯỢNG HOA SEN

XUÂN TÂN MÙI (1991)

(Phật tử)

Hôm nay là ngày Tết Nguyên Đán, chúng tôi dùng h́nh ảnh hoa sen để chúc Tết quí Phật tử. Trong đạo Phật biểu tượng hoa sen có những ǵ kỳ đặc? Hôm nay chúng tôi nói lên biểu tượng đó để tất cả quí Phật tử ư thức việc tu hành, sống theo tinh thần của biểu tượng hoa sen và đi đúng theo hướng của đức Phật đă dạy.

Nói đến hoa sen trước nhất trong chùa, chúng ta thấy tượng đức Phật ngự trên toà sen. Hẳn quí vị cũng nhớ thuở xưa khi thành Phật Ngài ngồi ở đâu? Ngài ngồi dưới cội Bồ-đề, trên toà cỏ. Hiện nay chúng ta lại để đức Phật ngồi trên ṭa sen, như vậy là không đúng sự thật rồi. Vậy ṭa sen mang ư nghĩa ǵ mà tất cả Phật tử chúng ta lại quí trọng để làm đài cho đức Phật ngồi? Kế đến khi đi chùa quí Phật tử thấy tháp thờ các vị trụ tŕ hay những vị có đạo đức cao đều có để các búp sen. Vậy các búp sen nói lên ư nghĩa ǵ mà trong đạo Phật từ chùa, tháp cho đến mộ của Phật tử cũng để h́nh ảnh hoa sen? Cả đến gia đ́nh Phật tử cũng dùng lá cờ có h́nh hoa sen. Đó là những điều chúng tôi thấy người Phật tử cần phải hiểu rơ để khi có người hỏi chúng ta biết cách giải thích. Tuy không phải khó  nhưng giải thích không suôn, v́ chúng ta không biết được ư nghĩa rơ ràng. Đây tôi nêu ra hai phần:

1. Ư nghĩa biểu tượng hoa sen theo tinh thần Phật giáo Nguyên thủy.

2. Ưnghĩa biểu tượng hoa sen theo tinh thần Phật giáo Phát triển hay là Đại thừa.

Theo tinh thần Phật giáo Nguyên thủy: Thường hoa sen xuất phát từ trong bùn nhơ, luôn luôn sen mọc trong ao, trong hồ. Điều đó ca dao Việt Nam đă có nhắc đến và quí vị cũng đă nhớ, đă thuộc. Như vậy giá trị của hoa sen là từ nơi bùn nhơ sen trỗi dậy, vươn lên khỏi bùn, ra khỏi nước rồi trổ hoa. Lúc đầu mầm nó chui trong bùn nhưng khi gần trổ hoa th́ nó vượt khỏi bùn, ngâm trong nước và lên khỏi mặt nước mới trổ hoa. Khi ở trong bùn th́ hôi, nhưng khi nó nở hoa th́ thơm ngát. Vậy giá trị của hoa sen là từ chỗ nhơ nhớp  hôi hám mà trổ hoa có mùi hương tinh khiết, đó là điểm kỳ đặc của hoa sen. Tỉ dụ như hoa hồng, hoa cúc, hoa mai chúng ta trồng trên khô, trổ hoa thơm th́ cũng thường, v́ chúng không có cái ǵ hôi hám. C̣n sen ở trong bùn lại trổ được hoa thơm, điều đó thật hiếm có. Thế nên đạo Phật dùng ư nghĩa này của hoa sen để tượng trưng cho người tu hành. Theo sử, đức Phật ngày xưa là thái tử con vua Tịnh Phạn, Ngài sống trong cảnh vương giả đầy đủ ngũ dục, tức là sắc, thanh, hương, vị, xúc dư thừa. Ngài sống trong ngũ dục, ch́m trong ngũ dục, nhưng chính từ trong ngũ dục sau này Ngài thức tỉnh, Ngài thoát ra khỏi ngũ dục và đi tu. Khi đi tu Ngài sống khổ hạnh đến ngày viên măn đạo quả, thành một đức Phật sáng suốt giác ngộ, cũng như hoa sen từ trong bùn vươn ra khỏi bùn, lên khỏi mặt nước rồi trổ hoa. Thế nên đức Phật dạy:

                        Trước tâm ta buông lung,

                        Chạy theo ái dục lạc,

                        Nay ta chánh chế ngự,

                        Như câu móc điều voi.

                                                            (Kinh Pháp Cú 326)

            Đức Phật kể lại: Thuở trước lúc ở trong cung Thái tử, tâm Ngài buông lung chạy theo ái dục, thụ hưởng dục lạc, nhưng ngày nay tức là khi đi tu, Ngài chế ngự được nó giống như người nài (người chăn voi) dùng câu móc điều phục voi. Như vậy quí vị thấy từ trong vũng bùn ngũ dục Ngài thoát ra và trở thành một vị giác ngộ giải thoát. Đức Phật không phải từ phương trời nào xuống, mà chính là một con người hưởng đầy đủ dục lạc ở thế gian, rồi tự điều phục, thoát khỏi ngũ dục trở thành đấng giác ngộ.

            Khi Ngài ở trong cung vua thọ hưởng dục lạc, ví dụ như hoa sen c̣n ở trong bùn; khi Ngài vượt thành xuất gia không c̣n ở trong thế gian của dục lạc nữa, ví dụ như hoa sen vượt ra khỏi bùn nhưng c̣n ở trong nước; khi Ngài cố gắng tu hành cho đến lúc được viên măn giác ngộ, giống như hoa sen vượt khỏi nước, nở hoa. Như vậy hoa sen từ lúc mới mọc đến khi trổ hoa trải qua nhiều giai đoạn: Giai đoạn một là ở trong bùn, giai đoạn hai là ra khỏi bùn ở trong nước, giai đoạn ba là ra khỏi nước, giai đoạn bốn là nở hoa thơm ngát. Cũng như vậy cuộc đời   của đức Phật có nhiều giai đoạn: giai đoạn một là đắm mê dục lạc ở thế gian, giai đoạn hai là vượt thành xuất gia, giai đoạn ba khi tu Ngài cố gắng tinh tấn tu cho đến được giới thanh tịnh, điều phục được tâm, giai đoạn bốn là giác ngộ viên măn. Thế nên sau này chư Tổ dùng hoa sen để tượng trưng cho công hạnh tu hành của đức Phật, h́nh tượng đức Phật ngựï trên đài sen là ư nghĩa như vậy. Sau khi giác ngộ rồi đức Phật cũng dùng hoa sen để dạy đệï tử và các đệ tử Phật cũng học theo gương của Ngài.

                        Như giữa đống rác nhớp

                        Quăng bỏ bên cạnh đầm,

                        Chỗ ấy hoa sen nở

                        Thơm sạch đẹp ḷng người.

                        Cũng vậy giữa quần sanh,

                        Uế nhiễm mù phàm tục,

                        Đệ tử bậc Chánh giác,

                        Sáng ngời bằng trí tuệ.

                                                (Kinh Pháp Cú 58-59)

            Qua bài kệ này chúng ta thấy đức Phật dạy đệ tử của Ngài phải giống như hoa sen, giống cách nào? Như khi vào thành phố chúng ta thấy mấy xe rác hôi hám nhơ nhớp, người ta đem đổ bồi các chỗ trũng, các đầm. Chính nơi đó sen mọc lên, khi sen nở, hoa có mùi rác hay mùi thơm thanh khiết? - Sen nở có mùi thơm thanh khiết. Đó là đức Phật dùng h́nh ảnh hoa sen để ví dụ. Ngài dạy tiếp: “Cũng vậy giữa quần sanh uế nhiễm, mù, phàm tục”, tức là ở giữa mọi người chung quanh chúng ta, họ là những kẻ uế nhiễm, mù tối, phàm tục, đệ tử của bậc Chánh giác phải như thế nào? Đệ tử của Phật phải cố gắng “sáng ngời bằng trí tuệ”, tức là ở chỗ mù tối, uế nhiễm chúng ta phải luôn luôn nuôi dưỡng trí tuệ ḿnh được sáng ngời để xứng đáng là đệ tử bậc Chánh giác. Như thế quí vị thấy đức Phật dùng hoa sen để nhắc nhở đệ tử Ngài phải sống đúng như tinh thần của hoa sen, từ chỗ nhiễm nhơ phàm tục phải dùng trí tuệ sáng ngời đi đến giác ngộ.

            Tiếp đến chúng tôi nói biểu tượng hoa sen theo tinh thần Phật giáo Đại thừa hay là Phật giáo phát triển, nó có hơi khác một chút. Hẳn đa số Phật tử ở đây đều có tụng kinh Pháp Hoa, Pháp Hoa là ǵ? Pháp là Diệu Pháp, Hoa là Liên Hoa, nói tắt là Pháp Hoa, nói đủ là Diệu Pháp Liên Hoa Kinh. Liên Hoa là hoa sen, Diệu Pháp ví dụ như hoa sen  nên gọi là Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, như vậy kinh Pháp Hoa là bộ kinh nói lên ư nghĩa Diệu Pháp giống như hoa sen. Diệu Pháp là ǵ? Tức là Tri kiến Phật. Kinh Pháp Hoa nói: “chư Phật ra đời v́  khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến”, nghĩa là chỉ dạy cho chúng ta ngộ được Tri kiến Phật, tức là cái thấy biết Phật của ḿnh. Vậy cái thấy biết Phật của ḿnh ở đâu? - Ở ngay trong thân vô thường nhơ nhớp này. Tri kiến Phật là cái thanh tịnh, sáng suốt, là Diệu Pháp, là Pháp sẵn có nơi con người chúng ta. Thân nhơ nhớp ô uế này dụ như đống bùn. Đức Phật dạy thân chúng ta là nhơ nhớp là bất tịnh  nhưng trong cái nhơ nhớp bất tịnh có cái thanh tịnh sáng suốt, v́ vậy mà dụ Tri kiến Phật như hoa sen. Chúng ta khéo ứng dụng tu theo lời Phật dạy trong kinh Pháp Hoa th́ sẽ được giác ngộ, thấy được Tri kiến Phật.

            Đến các Thiền sư nói về hoa sen như thế nào? Như một Thiền sư đời Lư, ngài  Đạo Huệ có bài kệ:

                        Sắc thân dữ Diệu thể,

                        Bất hiệp bất phân ly.

                        Nhược nhân yếu chân biệt,

                        Lô trung hoa nhất chi.

            Tôi dịch:

                        Sắc thân cùng Diệu thể,

                        Chẳng hợp chẳng chia ly.

                        Nếu người cần phân biệt,

                        Trong ḷ một cành hoa.

            Cành hoa tức là cành hoa sen. Các Thiền sư không nói hoa sen ở trong bùn nữa mà nói hoa sen ở trong ḷ lửa. Hoa sen trong bùn th́ dễ hiểu, c̣n hoa sen trong ḷ lửa là điều quá sức tưởng tượng của chúng ta. Tôi sẽ giải thích ư nghĩa này. Ḷ lửa là chỉ thân vô thường, trong kinh Pháp Hoa cũng có dụ là “Tam giới vô an du như hoả trạch”, nghĩa là ba cơi không an giống như trong nhà lửa. Thân vô thường của chúng ta bị thiêu đốt, nó khô, nó chết từng phút từng giây, nhưng trong đó lại có một cái chưa bao giờ bị thiêu đốt, luôn nguyên vẹn trong sáng tươi tốt, nói theo kinh Pháp Hoa đó là Tri kiến Phật, nói theo bài kệ này đó là Diệu thể. Ḷ lửa dụ cho sắc thân, cành hoa dụ cho Diệu thể. Cành hoa là biểu trưng cho trí tuệ sẵn có của chúng ta, nhà Phật gọi là Phật tánh hay Chân tâm. Trí tuệ đó sẵn trong thân vô thường này giống như hoa sen trong ḷ lửa. Thân chúng ta bị lửa vô thường thiêu đốt bại hoại nhưng hoa sen của chúng ta, tức tánh giác của chúng ta, không bao giờ khô héo. Thế nên đă bao lần thân này hoại đi qua thân khác mà tánh giác không thêm, không bớt, không thay đổi dụ như hoa sen trong ḷ lửa vẫn tươi tốt.

            Đến vị thứ hai, cũng đời Lư, Thiền sư Ngộ Ấn nói khác hơn một chút:

            Diệu tánh hư vô bất khả phan,

            Hư vô tâm ngộ đắc hà nan.

                        Ngọc phần sơn thượng sắc thường nhuận,

            Liên phát lô trung thấp vị càn.

            Tôi tạm dịch:

                        Diệu tánh rỗng không chẳng thể vin,

            Rỗng không tâm ngộ việc dễ tin.

            Tươi nhuần sắc ngọc trong núi cháy,

            Ḷ lửa hoa sen nở thật xinh.

            Trong bài này Thiền sư cũng nói hoa sen ở trong ḷ lửa .

            “Diệu tánh rỗng không chẳng thể vin” nghĩa là mỗi người chúng ta có cái tánh nhiệm mầu tức là tánh giác, nó rỗng rang nên chúng ta không thể nào vin theo được, không thể nào nắm bắt được.

            “Rỗng không tâm ngộ việc dễ tin” là nếu khi tâm chúng ta rỗng rang không c̣n dính mắc nữa th́ lúc đó chúng ta mới tin được nó.

            “Tươi nhuần sắc ngọc trong núi cháy” nghĩa là ở trong ngọn núi cháy rực, ḥn ngọc vẫn tươi nhuần không bị khô, không bị cháy cũng không bị nứt bể...

            “Ḷ lửa hoa sen nở thật xinh” là ở trong ḷ lửa hoa sen vẫn nở thật đẹp. Như vậy hoa sen ở trong ḷ lửa là để nói ngay thân vô thường sanh diệt của chúng ta vẫn có cái thể tánh hay là cái Diệu tánh lúc nào cũng tươi nhuần, lúc nào cũng đẹp đẽ không bị khô héo, hư hao trong khi tất cả đều bị ngọn lửa vô thường thiêu đốt. Như thế quí vị thấy ngay trong thân vô thường có cái không phải vô thường, cái đó gọi là Diệu tánh (theo ngài Ngộ Ấn) hay là Diệu thể (theo ngài Đạo Huệ), đều chỉ cho cái chân thật đó.

            Lại có một vị Tăng hỏi Ḥa thượng Tộ ở Trí Môn: Hoa sen khi chưa ra khỏi nước th́ thế nào?

            Ngài đáp: Hoa sen.

            - Sau khi ra khỏi nước th́ thế nào?

            - Lá sen.

            Như thế lời đáp có dễ hiểu không? Lời đáp như là không có đáp, không thể hiểu ǵ cả. Nhưng sau này có một vị Quốc sư Nhật Bản, ngài Viên Thông Đại Ứng làm bài tụng để chúng ta thấy rơ nghĩa đó. Ngài tụng:

                        Liên hoa hà diệp ly nê thủy,

                        Xuất vị xuất thời tuyệt điểm ai.

                        Vô hạn thanh hương thâu bất đắc,

                        Hoà phong đới vũ măn tŕ khai.

            Tôi tạm dịch:

                        Hoa sen cành lá ĺa bùn  nước,

                        Ra với chưa ra bặt điểm trần.

                        Vô hạn hương thơm thu chẳng hết,

                        Theo mưa quyện gió nở đầy ao.

            Nói là ra khỏi nước hay chưa ra khỏi nước, nói là hoa sen, cành sen hay lá sen, cách nói đó là để chúng ta không bị t́nh giải trói buộc. Vị Tăng hỏi “hoa sen khi chưa ra khỏi nước như thế nào” là ư ngầm hỏi khi Phật tánh của chúng ta c̣n lẫn trong tâm phàm tục này hay là trong cái vọng tâm phiền năo này th́ thế nào?

            Ngài liền trả lời: Hoa sen.

           Lại hỏi: Sau khi ra khỏi nước th́ thế nào? Lẽ ra sau khi ra khỏi nước là sắp nở, cũng như là tâm giác của chúng ta khi thoát khỏi phiền năo là sẽ sáng, nhưng Ngài lại đáp là “lá sen”. Như vậy đáp là hoa sen, là lá sen, lối đáp đó đều không cho chúng ta hiểu mà để chúng ta thấy. Nếu khi nào chúng ta không khởi niệm suy nghĩ phân biệt - danh từ chuyên môn nhà Thiền gọi là không khởi t́nh giải - lúc đó “ra với chưa ra bặt điểm trần”, nghĩa là không c̣n một mảy niệm nào làm cho nhơ nhớp. Nếu không c̣n một mảy niệm nhơ nhớp th́ “vô hạn hương thơm thu chẳng hết”, khi ấy hương thơm tràn khắp, dù chúng ta muốn thu, thu cũng không hết. “Theo mưa quyện gió nở đầy ao” là theo mưa theo gió, đầy ao nở toàn là hoa sen. Tóm lại ư bài tụng này muốn nói rằng khi người ta đến chỗ tâm niệm không c̣n đuổi theo ngoại cảnh hay là không c̣n khởi những t́nh giải lăng xăng nữa, khi đó tâm thanh tịnh không c̣n dính một mảy bụi nhơ nhớp,  khi ấy nơi nơi hoa sen đều nở rực, nơi nơi là mùi hương thơm ngát của hoa sen, không c̣n có những hôi hám bẩn thỉu nữa. Đó là ư nghĩa hoa sen.

            Tôi nhắc lại, tinh thần Phật giáo Nguyên thủy nói về hoa sen như chúng ta từng học từ thuở bé “Trong đầm ǵ đẹp bằng sen...”, đó là ư nghĩa từ chỗ nhơ nhớp trở thành thanh tịnh thơm tho, đẹp đẽ, để chỉ cho tất cả chúng ta từ con người phàm tục dở xấu, nhưng khéo tu khéo sửa sẽ trở thành con người hay, con người tốt. Con người hay tốt không phải ngẫu nhiên có, mà phát xuất từ con người xấu dở trước kia. Cũng như đức Phật, không thể bỗng nhiên có Phật ra đời, mà chính Ngài từ con người phàm tục thọ hưởng dục lạc rồi sau thức tỉnh bỏ dục lạc đi tu đến giác ngộ. Như vậy đâu phải Ngài từ trên trời rơi xuống, cũng không phải từ hành tinh xa lạ nào đến đây, mà chính là con người chứa đầy đủ bản tánh người như chúng ta, nhưng khi tu rồi Ngài dẹp bỏ tất cả, Ngài trở thành Phật. Hiện nay chúng ta có giống Ngài không? Chúng ta tu dễ hay khó hơn Ngài? Nếu quí Phật tử nam “lỡ” làm Hoàng tử th́ chắc là hưởng suốt đời chớ không bao giờ bỏ ngai vàng đi tu! Nếu quí Phật tử nữ làm Công chúa chắc cũng khó đi tu lắm! Đức Phật cũng là một con người, nếu Ngài mang tính chất thánh thiện sẵn, chắc là Ngài không có gia đ́nh, không có con. Thế th́ Ngài cũng như chúng ta, Ngài cũng có gia đ́nh, cũng có con, nhưng Ngài dám dứt bỏ tất cả, một phen ra đi khi nào ngộ đạo mới trở về. Đó là điều đặc biệt của Ngài. Trái lại chúng ta hiện nay đi đâu th́ nhớ nhà, nhớ người này, nhớ người kia, nhớ con, nhớ đủ tất cả... Thế nên chúng ta cũng có tư cách như Ngài mà không làm được như Ngài, c̣n Ngài cũng có tư cách như chúng ta mà Ngài đă làm được con người xuất trần.

            Nh́n đức Phật rồi gẫm lại chúng ta, tất cả chúng ta đều có khả năng làm Phật, nhưng rất tiếc là chúng ta không gan. Thường thường quí vị ai cũng nói ḿnh gan lắm, chớ đâu có ai nói tôi nhát lắm, tôi khiếp nhược lắm, phải không? Nhưng anh hùng là anh hùng với những người yếu thế hơn ḿnh, như bên nam th́ anh hùng với vợ con, vợ con nói sái ư th́ la hét và muốn tát tai liền, nhưng lại không anh hùng với ḿnh, những sự nóng giận, tham lam, si mê của ḿnh không có gan bỏ, mà không có gan bỏ tức là không có anh hùng! Trong đạo Phật, anh hùng là anh hùng với chính ḿnh. Những ǵ biết là xấu, là dở liền cắt đứt ngay. Tôi thấy quí Phật tử bên nam chắc cũng có nhiều người ghiền rượu, ghiền thuốc phải không? Biết ghiền rượu, ghiền thuốc là hại sức khoẻ, là tốn tiền, nhưng quí vị có bỏ được không? Mười người khoảng hai, ba người bỏ được, c̣n bảy, tám người không bỏ được, như vậy là không gan, biết hại nhưng không gan bỏ. Hành động cử chỉ mạnh bạo hung tợn tỏ ra là anh hùng, nhưng rốt cuộc cái hại, cái dở của ḿnh lại bỏ không nổi th́ đâu gọi là anh hùng. Như vậy để thấy người đời không can đảm giải quyết những điều hư, điều dở của ḿnh.

           Trái lại, đức Phật từ con người dở tức là con người hưởng thụ ngũ dục trong cảnh vua chúa sang giàu, nhưng khi thức tỉnh rồi ngay đó Ngài dứt bỏ hết, Ngài đi tu. Chúng ta hiện nay thật ra hưởng thụ có bao nhiêu đâu, sánh với đức Phật khi c̣n làm Thái tử, Ngài thụ hưởng trăm phần mà Ngài dứt bỏ một cách dễ dàng, c̣n quí Phật tử thụ hưởng chưa được mười phần mà bỏ không được, như thế mới thấy chỗ yếu của chúng ta. Chính sự yếu đuối đó làm cho chúng ta tu không tiến, c̣n Ngài khi quyết định làm th́ dứt khoát làm, khi vượt thành xuất gia rồi cho đến khi ngộ đạo mới trở về thăm gia đ́nh. C̣n chúng ta hiện nay ngồi trong chùa th́ nhớ gia đ́nh, về gia đ́nh lại nhớ trong chùa, đi đi lại lại không có thái độ dứt khoát, nên không thể b́ được với Ngài.

            Đến các Thiền sư, các ngài thấy rơ thân chúng ta là thân vô thường bại hoại, ai cũng bị vô thường chi phối. Quí vị nhớ thuở nào chúng ta là người trẻ, nay là người già. Sắc tươi trẻ lần lần bị thiêu đốt, trở thành già, tóc ngày xưa xanh nay đă bạc, răng ngày xưa cứng chắc nay đă rụng, những ǵ tốt đẹp thuở xưa nay đều bại hoại. Cái ǵ làm hoại? Nhà Phật gọi đó là lửa vô thường thiêu đốt. Tuy thân chúng ta bị lửa vô thường thiêu đốt, nhưng trong đó có cái không bị thiêu đốt, đó là Phật tánh, là Chân tâm của chúng ta. Thế nên Thiền sư dụ Phật tánh, Chân tâm như hoa sen, thân vô thường như ḷ lửa.

            Như vậy tất cả chúng ta ai cũng có hoa sen trong ḷ lửa, nhưng hiện nay chúng ta nhớ ḷ lửa hay nhớ hoa sen? - Cứ nhớ thân lửa cháy rần rần, c̣n hoa sen th́ không nhớ chút nào, thế nên khi thân cháy rụi th́ chới với. Nay ngay trong ḷ lửa này chúng ta nhận ra hoa sen, thấy hoa sen tươi thắm trong ḷ lửa, chúng ta cười vui, dù lửa cháy đến đâu đi nữa chỉ làm tươi thắm thêm hoa sen của ḿnh. Ḷ lửa cháy, nó khô nó hoại, hoa sen vẫn tươi thắm măi, vậy là trong cảnh vô thường chúng ta thoát được cái vô thường. Trái lại, nếu chúng ta chỉ nhớ thân ḷ lửa này, dầu chúng ta cung cấp nuôi dưỡng nó bao nhiêu đi nữa, nó cũng phải bại hoại. Có ai nuôi thân này khỏi bại hoại không? Hẳn là không, nuôi cách nào rồi cũng bại hoại, cũng không c̣n. Vậy tại sao cái sẽ không c̣n mà chúng ta cố giữ, cố lo cho nó măi, trong khi cái c̣n măi, không bao giờ mất, lại không nhớ? Như thế chúng ta là người trung thành với ḿnh hay là người phản bội ḿnh? Chúng ta thương chúng ta hay là ghét? Ghét mới bỏ cái thật giữ cái giả, trái lại nếu thương ḿnh th́ cái thật phải giữ, cái giả đừng màng. Quí Phật tử thử kiểm điểm lại xem, quí vị lớn tuổi trong sáu bảy mươi năm nay quí vị giữ cái nào? Ḷ lửa hay hoa sen? Ḷ lửa cháy rực thiêu đốt hết bao nhiêu sự nghiệp mà cứ giữ, c̣n hoa sen tươi thắm trong đó lại bỏ quên! Thật là chúng ta tự hủy hoại, tự bỏ quên ḿnh! Thế nên người Phật tử tu theo Phật cần yếu là phải nhớ lại ḿnh, biết được ḿnh, t́m ra cái thật của ḿnh, đó là căn bản của sự tu.

            Trong kinh đức Phật dạy chúng ta tu là phải buông xả tâm chấp ngă này. Cái ngă này tức là ḷ lửa. Khi không chấp thân, không chấp cái ngă này là ḿnh th́ tâm chúng ta mới không dính mắc, không tham, không sân, không phiền năo. Khi ấy trí tuệ chân thật hiện ra, gọi là hoa sen hay Tri kiến Phật. Vậy trí tuệ đó sẽ phát ra khi nào chúng ta không chấp cái hư giả là ḿnh, cái hư giả là quí. Quí vị có bằng ḷng điều đó không? Tuy nó giả mà thương nó quá, không đành quên nó, v́ thương nó nhiều nên có ai xúc chạm đến nó th́ nổi sân. V́ lẽ đó đức Phật thường dạy người Phật tử phải biết thân này là vô thường, vô ngă. Vô ngă là không phải thật ta mà chấp là ta. Như hiện nay quí vị nghĩ da thịt là ḿnh chăng? Nếu da thịt là ḿnh th́ chỗ nào lỡ có u nhọt, người ta cắt bỏ ra th́ cái đó là ḿnh hay là miếng thịt thúi? Chúng ta có gớm không? Nếu là ḿnh th́ lúc nào cũng là ḿnh, chớ không thể c̣n ở trong thân là ḿnh, cắt bỏ ra ngoài là không phải ḿnh, rồi lại gớm nó. Như thế làm sao nói thân này là thật được? Nhưng trong đó có cái chân thật ẩn náu mà chúng ta không thấy. Thế nên người tu dù xuất gia, dù tại gia đều phải làm sao thấy được, t́m ra được cái chân thật của ḿnh. Nhưng muốn thấy được cái thật th́ phải biết cái giả. Khi có những món đồ giả, nếu muốn mua đồ thật đừng lầm đồ giả th́ phải làm sao? Phải biết đồ giả như thế nào, đồ thật như thế nào, biết được cái giả rồi mới t́m ra cái thật, chớ nếu tưởng giả là thật th́ mỗi lần mua là mỗi lần lầm. Thân này cũng vậy, trong nó có cái giả mà cũng có cái thật, nếu không nhận ra cái giả th́ không bao giờ biết được cái thật. Thân chúng ta là thân vô thường luôn luôn bị thiêu đốt, bị bại hoại. Cái ǵ bị thiêu đốt, bị bại hoại là giả, nhưng chúng ta cứ cho là thật. Thân ḿnh là thật, nên khi nghe Phật nói thân này vô ngă, không phải là ḿnh th́ buồn khổ. Hiểu như vậy để biết thân chúng ta là tướng duyên hợp, duyên hợp th́ không thật. Thế nên nhiều lần tôi hay đặt câu hỏi  quí Phật tử: Thân này là thật hay giả? Nhiều người trả lời là giả, tất cả quí vị hẳn là đồng ư. Nhưng câu trả lời “giả” là trong thâm tâm thấy giả hay bắt chước nói theo Phật? Tôi hỏi tiếp: Tại sao biết thân này là giả? Đa số quí vị đáp: V́ Phật nói thân này vô thường tạm bợ hư dối nên nói là giả. Vậy là bắt chước mà đáp chớ không phải chính ḿnh nhận biết. Thế nên tôi không chịu cách nói đó. Nay tôi đặt câu hỏi quí vị: Mũi quí vị đang làm ǵ?

            - Đang thở.

            - Thở nghĩa là làm ǵ?

            - Chúng ta hít không khí ở ngoài vào độ mấy giây đồng hồ liền trả ra. Hít vào, trả ra. Có ai hít vào mà không trả ra không? Nếu trả ra mà không hít vào th́ thế nào? Như thế th́ cuộc sống này là nhờ hít vào, tức mượn không khí ở ngoài, rồi trả ra, mượn trả, mượn trả đều đều... Quí vị nói: tôi ngồi chơi, chớ không ngờ ḿnh đang mượn trả, mượn trả đều đều không có lúc nào ngồi chơi cả. Nếu trả rồi không mượn lại th́ thế nào? Người ta gọi đó là tắt thở, là chết. Nếu thân này là thật th́ không cần mượn, của ḿnh rồi th́ mượn làm chi, trái lại phải mượn mới c̣n, mới sống th́ đâu gọi là thật. Mũi mượn không khí, miệng mượn tách nước, một lát sau lại trả, rồi đến mượn chén cơm rồi lại trả... Mượn trả đều đều suôn sẻ đó là cuộc sống yên lành. Nếu mượn mà trả không được th́ thế nào? Th́ xuống đất. Nếu trả mà mượn không được th́ thế nào? Cũng xuống đất. Chúng ta thấy cuộc sống thật đáng tức cười, chỉ là mượn trả, nếu suôn sẻ th́ cười vui cho là hạnh phúc, nếu trục trặc th́ nằm giăy giụa rồi chở đi cứu cấp. Như vậy trong cuộc sống này cái ǵ là thật? Trong nhà Phật nói thân này do tứ đại (đất, nước, gió, lửa) hợp thành, nhưng tự nó không bảo vệ được, phải mượn đất nước gió lửa bên ngoài bồi bổ luôn, nên lúc nào cũng mượn trả. Xét theo lẽ đó thân mượn trả là thân tạm bợ vô thường, giả dối không thật. Không thật mà tưởng thật là không sáng suốt. Nếu thấy rơ như vậy, quí vị có tỉnh không? Tỉ dụ như hết nước th́ mượn nước, như nước lă hoặc nước trà, hoặc nước cam, nước xá xị v.v... Nếu khô cổ cho một tách nước vào th́ hết khô. Nhưng chúng ta lại cầu kỳ, cho nước lă không chịu, phải kiếm nước cam, nước chanh mới bằng ḷng. Cũng v́ ư muốn đó nên cực nhọc, v́ phải làm ra tiền mới mua được, chớ nước lă th́ không phải mua, không phải tốn ǵ cả. Đến cần bồi bổ đất, tức khi bao tử trống th́ kiếm chén cơm với vài thức ăn đơn giản như rau luộc... nhưng chúng ta lại đ̣i phải có ǵ xào chiên thơm thơm, phải có thịt, có cá... nên phải cực. Một hôm vào buổi sáng sớm, trên xe đi từ Phước Thái về thành phố Hồ Chí Minh đến một chiếc cầu vào thành phố, tôi nh́n thấy nước dưới sông đen ng̣m mà có nhiều người cầm rổ đi vớt, đi xúc, nước đă hôi mà cứ dầm dưới đó là v́ cần kiếm ít con cá, ít con tép con con về ăn, chỉ bấy nhiêu đó là vừa ư rồi. Thay v́ ở nhà cuốc một liếp trồng rau, buổi sáng cắt vào ăn, khỏi phải lạnh phải hôi ǵ cả, thế mà không chịu. Lại gần đây trong chuyến đi lên nghỉ trên Đà Lạt, mỗi sáng tôi đi quanh hồ Xuân Hương, nhiều hôm trời lạnh buốt, đi trên bờ c̣n phải mặc áo lạnh, mà vẫn có những người cầm nơm xuống hồ đi nơm cá, cả ḿnh ướt đẫm, lạnh đánh ḅ cạp nhưng họ vẫn chịu đựng. V́ sao phải cực nhọc như vậy? Cũng v́ mượn đất vào cho hợp với lưỡi của ḿnh, thật ra miễn thứ đất nào có đủ chất bồi bổ cơ thể là được, đâu cần phải có những thứ ngon ngọt mới được. Như ở chùa chúng tôi đâu có ăn con vật nào mà vẫn sống. Nếu phải chịu lạnh lẽo kiếm mấy con vật đó để ăn, thử hỏi cái khổ này ai đày ḿnh vậy, ai làm ḿnh khổ? Có phải cái lưỡi không?

            Chúng ta thấy tất cả cuộc sống của chúng ta v́ lệ thuộc vào cảm giác của mũi, tai, mắt, lưỡi, thân nên phải khổ. Nếu biết là vay mượn chúng ta chỉ mượn những ǵ cần xài thôi, cũng như xe hết xăng không chạy được th́ đổ xăng vào, thân hết nước th́ khô, khó chịu, uống tách nước vào th́ hết khô, cần ǵ phải bày biện cho thêm khổ, càng cầu kỳ chừng nào th́ càng khổ chừng nấy. Uống trà, không thích trà thường, phải trà hiệu này hiệu kia, thế nên bao nhiêu tiền cũng không đủ, đó là lỗi tại ai?

            Nếu hiểu rơ tinh thần Phật dạy, chúng ta thấy tu là phải đơn giản. Muốn đơn giản cuộc sống, chúng ta phải thấy rơ bản chất của thân. Nó là một đống bùn nhơ, một tướng vô thường, nó là cái ḷ lửa chớ không có ǵ tốt, quí báu. Nếu chúng ta không lầm nó, đương nhiên đời sống chúng ta sẽ đạm bạc, yên ổn và việc tu hành của chúng ta cũng được dễ dàng, trái lại nếu lệ thuộc vào nó th́ đường tu của chúng ta sẽ rất là khó.

            Tóm lại tôi giải thích cũng khá nhiều, hẳn quí Phật tử không nhớ tôi muốn chúc điều ǵ. Vậy tôi cô đọng lại lời chúc Tết đầu năm của chúng tôi, để tất cả quí Phật tử có mặt về kể lại cho quí Phật tử vắng mặt là, tôi gởi lời chúc tất cả quí Phật tử sang năm mới đều là những mầm sen chuẩn bị thoát ra khỏi bùn, khỏi nước và trổ hoa tươi đẹp thơm tho.

]


ĐỜI TU CỦA TÔI

TẤT NIÊN TÂN MÙI (1992)

Đêm nay là đêm Tất niên. Trong đêm này chúng ta kiểm lại những tư tưởng và việc làm của chúng ta trong năm qua để t́m một lối đi trong sáng cho đời tu của ḿnh mỗi năm mỗi được tăng tiến. Nhưng đêm Phổ trà hôm nay lại đặc biệt hơn những năm qua v́ nó mang một ư nghĩa rất quan trọng, không phải của toàn chúng, mà quan trọng trong đời tu của tôi.

            Kiểm điểm lại từ khi đi tu cho đến ngày nay, chúng tôi đă làm được những ǵ và đă có những thất bại nào. Đây không có nghĩa là tôi kể lại một ḍng lịch sử, mà chúng tôi muốn nói lên những cái ưu cái khuyết của bản thân tôi trong cuộc hành đạo, để quí vị lấy đó làm kinh nghiệm sau này khi đứng ra lănh chúng dạy người. Có được kinh nghiệm, quí vị sẽ giáo hóa rộng răi như tôi hoặc hơn tôi.

            Trong đời tôi ngang đây phần giáo hóa coi như dừng lại, nếu không phải là chấm dứt. Nếu có thêm thắt chút ít, không đáng kể, c̣n phần chánh đến đây là đă xong trách nhiệm của tôi. Cho nên chữ Tất niên hôm nay là Tất một đời hoằng pháp của tôi (Nhưng chưa đầy ba năm sau Ḥa thượng trở lại hoằng hóa độ sanh và thành lập Thiền viện Trúc Lâm tại Đà Lạt để làm sống dậy Thiền tông đời Trần và cũng là khôi phục  Thiền tông Việt Nam). Chắc rằng có nhiều người muốn nghe, nên tôi không ngại mất thời giờ tuần tự kể chuyện, quí vị vừa uống trà vừa nghe.

            Trước hết tôi kể về phần ưu trong đời tu của tôi.

            Tôi thường tự mừng và khoe với đại chúng rằng tôi được Tam Bảo ưu đăi trên đường tu, ưu đăi rất là trọng hậu. Những ưu đăi đó tôi xin kể theo thứ tự:

      Điểm ưu thứ nhất:

Tôi gốc là người ngoại đạo, không biết ǵ về đạo Phật cả, cha mẹ tôi không biết đạo Phật, bản thân tôi cũng không biết đạo Phật, mà ham tu. Như vậy ham tu là một chủng tử trong quá khứ, chớ không phải ở hiện tại. Tôi nghe ông thân bà thân tôi kể lại: Khi được sanh ra th́ tôi đau yếu luôn, các chị gái của tôi cũng vậy, chỉ sống được năm, bảy tháng thôi. Đến phiên tôi th́ èo uột, nên trong nhà sợ lắm. Có một số đạo hữu biết tụng kinh nên mới rủ cha mẹ tôi nhập môn. Muốn bảo đảm cho tôi được sống nên ông thân tôi mới nhập môn theo đạo Cao Đài. Coi như tôi là nhân tố đưa gia đ́nh theo đạo Cao Đài. Như vậy tôi theo đạo khi mới lọt ḷng mẹ, nhưng điều đặt biệt là sao tôi lại thích đạo Phật. Tuy thích đạo Phật nhưng không biết làm sao đến chùa, cũng không biết thưa hỏi với ai. Chỉ biết là lúc nào tôi cũng muốn tu Phật thôi. Tôi nghĩ đó là chủng tử quá khứ chớ không phải mới. V́ thế khi phát tâm đi tu, thật t́nh tôi không biết chọn lựa, v́ có từng vào chùa đâu mà biết nơi nào hay nơi nào dở, nơi nào đáng học, nơi nào không. Việc đi tu của tôi đối với đạo Phật là một việc đánh liều, v́ ham tu nên đi tu, không lựa chọn nơi chốn để tu, cũng không nghĩ có thể làm lợi ích cho Phật pháp mai sau. Song nhờ Tam Bảo gia hộ tôi đi đúng chỗ. Vừa bước  chân vào đạo là tôi đi thẳng vào Phật học đường, nơi Ḥa thượng Viện trưởng đang dạy học. Ḥa thượng đang dạy Sơ đẳng Phật học năm thứ ba th́ tôi vào chùa. Ngài chấp nhận cho tôi tu và cho học năm thứ ba Sơ đẳng mà thật t́nh tôi chưa biết “chữ nhất”, v́ tôi đă mất hai năm học đầu. Như vậy tôi học đạo thật là không có thứ tự lớp lang chi hết. Nhưng tôi được Ḥa thượng thương, đưa cho tôi những kinh sách in sẵn của Ngài để theo đó mà ḍ. Nhất là lúc ấy tôi lại có một chú Thiện hữu tri thức c̣n nhỏ, là anh chú bác với Đắc Huyền, hiệu là Thanh Đức. Tuy c̣n nhỏ để chóp, nhưng chú rất thông minh, giỏi chữ Hán, chú tiểu gọi tôi bằng chú. Hai chú cháu học chung với nhau, chú tiểu đọc chữ Hán tôi giải nghĩa. Tôi không thuộc mặt chữ nhưng đọc đến đâu tôi biết giải nghĩa đến đó, hai chú cháu hợp tác với nhau học được một năm đến cuối lớp Sơ đẳng bước lên Trung đẳng.

            Khi tôi bắt đầu vào đạo năm 1949, ở dưới quê được vài ba năm, đến năm 1953 th́ Ḥa thượng Viện trưởng cho tôi và một số huynh đệ về nhập học tại Phật học đường Nam Việt, chùa Ấn Quang. Thế là chúng tôi bắt đầu vào lớp Trung đẳng Phật học. Khi  c̣n ở quê, mấy năm sau lớp học Ḥa thượng dạy chỉ c̣n có hai người: bên Tăng là tôi, bên Ni là cô Trí Định, mà Ḥa thượng vẫn giảng dạy đều, nên khi lên Ấn Quang học chúng tôi theo kịp huynh đệ không có ǵ gọi là khó khăn. Như vậy Tam Bảo đă ưu đăi tôi nên xui khiến tôi đi trúng chỗ, nếu không tôi sẽ đi vào các chùa làm thầy cúng, cứ lo đi cúng kính hoài, không biết rồi đời tu của tôi sẽ ra sao?

            Tôi thuộc về loại người cứng đầu, coi hiền nhưng cứng đầu. Tu theo đạo Cao Đài tôi không thỏa măn, v́ có những điều tôi thấy dường như không thật nên tôi từ chối không theo. Khi đến với đạo Phật, nếu tôi vào chùa chỉ lo cúng kính, chắc tôi sẽ bỏ cuộc, hoặc là hoàn tục, hoặc lên núi non tu theo ngoại đạo không biết chừng.

Kiểm điểm lại, tôi thấy Tam Bảo đă ủng hộ tôi, hậu đăi tôi. Không biết lựa chọn, cũng không quen với ai mà khi tôi bước vào chùa lại trúng ngay Phật học đường, lại được Ḥa thượng Viện trưởng chỉ dạy. Ngài là một vị giáo thọ đầy đủ đức và tài, sau này được mời lên chùa Ấn Quang (Phật học đường Nam Việt) làm Đốc giáo, tức là Hiệu trưởng. Theo thế gian nói, tôi như chuột rơi vào hũ nếp! Tôi chỉ biết ham tu, và đi vào chỗ đúng như sở nguyện. Có nhiều người xuất gia trước tôi năm mười năm, bây giờ là trụ tŕ, chỉ lo cúng kính thôi, chớ không thông hiểu đạo lư bao nhiêu, thật là đáng thương.

            Điểm ưu thứ hai:

            Tôi là con người có tật không chịu dừng, cũng không biết đủ trong khi t́m kiếm một cái ǵ. V́ thế khi học lớp Trung học Phật giáo, tôi được đọc các quyển kinh mà những dịch giả nào là ngài Tam tạng Pháp sư  Cưu-ma-la-thập, nào là ngài Tam tạng Huyền Trang..., các Ngài đều thông suốt Tam tạng giáo điển, c̣n riêng tôi không biết ǵ, chỉ được học năm, ba quyển kinh, th́ làm sao có đủ tư cách là người sau này lănh  trách nhiệm làm lợi ích cho nhiều người! Cho nên tôi ước mơ làm sao ḿnh có được Tạng Kinh để t́m xem trong ấy dạy những ǵ? Nếu không có Tạng Kinh  th́ coi như đời tu của ḿnh chỉ có một hai mảnh vụn của Phật pháp thôi. Cái mơ ước đó của tôi rồi cũng được toại nguyện. Tức là khoảng năm 1961 đạo hữu Minh Đạo và gia đ́nh phát tâm thỉnh cho tôi Tạng Kinh. Cũng năm đó tôi bị bệnh phổi phải nằm bệnh viện, và sau đó tôi lên Phương Bối ở Bảo Lộc cất thất tên là Thiền Duyệt thất để dưỡng bệnh. Nói đi dưỡng bệnh mà thật t́nh tôi đọc kinh. Khai Tạng Kinh ra đọc, tôi mới biết c̣n bao nhiêu quyển kinh tôi chưa từng biết. Nhất là mấy bộ A-hàm, càng đọc tôi thấy càng hay. Nhớ lại các bộ  kinh Đại thừa tôi thấy làm như tôi mất ḷng tin. Tại sao vậy? V́ kinh A-hàm thực tế và cụ thể quá, kể những câu chuyện rơ ràng, c̣n các kinh Đại thừa kể chuyện đâu đâu.

            Ví dụ như trong kinh Kim Cang ngài Tu-bồ-đề hỏi Phật: Người phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, làm sao hàng phục được tâm ḿnh? Phật bảo: Muốn hàng phục tâm ḿnh th́ phải độ tất cả chúng sanh, nào là có sắc, không sắc, cho đến có tưởng, không tưởng v.v..., độ tất cả vào Vô dư Niết-bàn. Đọc đến đây tôi nản quá: Vô dư Niết-bàn tức là Niết-bàn của hàng A-la-hán, sau khi chứng quả nhập Niết-bàn. Ḿnh bây giờ là phàm Tăng chưa có cái ǵ hết, làm sao độ người vào Vô dư Niết-bàn? Chẳng những độ người  mà phải độ tất cả chúng sanh... tính chừng bao nhiêu? Vô biên vô số th́ làm sao độ. Độ tất cả vào Vô dư Niết-bàn mà ḿnh chưa được Niết-bàn th́ làm sao độ được! Đến đây tôi cứ thở dài, rồi nói: Ḿnh học kinh mà không có thực hành ǵ được, Phật nói chuyện cao xa trên trời trên mây đâu không.

            Rồi tôi đọc thêm kinh Pháp Hoa, lại khổ nữa. Nhất là trong phẩm “Hiện Bửu Tháp” Phật đang nói pháp bỗng dưng có cái tháp dưới đất chui lên lững lờ trên hư không v.v..., chuyện không sao tin nổi. Đến phẩm “Tùng Địa Dũng Xuất” cũng vậy, Phật đang nói kinh, rồi đất rung động nứt ra, Bồ-tát ở dưới đất vọt lên vô số..., sao kỳ lạ quá không thể tin được. Tự nhiên tôi thấy như mất ḷng tin nơi kinh điển Đại thừa. Lúc ấy khi dạy Tăng Ni tôi có nói một câu mà sau này tôi sám hối, tôi nói rằng: “Kinh điển Đại thừa phải để trên trang mà thờ, chớ không có ứng dụng được, v́ dạy chuyện đâu đâu, làm sao ứng dụng.” Tôi nói như vậy là thấy tôi mất ḷng tin đến mức nào!

            Lúc ấy tôi chỉ tin các kinh A-hàm, cụ thể và thực tế. Nên khi nằm ở Thiền Duyệt thất trên Phương Bối, tôi soạn dịch ra những bài kinh A-hàm có đủ tính cách cần thiết để dạy cho Tăng Ni. Mỗi bộ A-hàm tôi đều trích dịch một quyển và thầm nguyện để đền ơn Thầy Tổ và đàn-na thí chủ th́ ḿnh phải dạy dỗ lại một số Tăng Ni. Tôi soạn dịch chương tŕnh đó xong và có ư ngầm sau khi hết bệnh tôi sẽ mở lớp dạy chư Tăng. Đó là một chương tŕnh chuyên khoa, chư Tăng chuyên học Kinh điển để sau này ra làm trụ tŕ hoặc làm Phật sự.

            Điểm ưu thứ ba:

            Đến cuối năm 1962, tôi trở về thành phố ở trong An Dưỡng Địa. Tôi cất một cái thất lá ở riêng, v́ có mặc cảm bị bệnh phổi mà ở chung sợï lây bệnh cho chúng tội nghiệp (mặc dù lúc ấy tôi đă hết bệnh).

            Khi ấy Ḥa thượng Giám đốc Ấn Quang và Ḥa thượng Đốc giáo tức là Thầy tôi bảo: “Thanh Từ hết bệnh về Ấn Quang tiếp dạy.” Tôi thưa: “V́ bệnh con là bệnh phổi ở chung trong chúng không được tốt, hơn nữa ở Ấn Quang ồn quá. Quí Ḥa thượng bảo con dạy, xin mở trường tại An Dưỡng Địa này, con mới có thể làm việc được.” Chính Ḥa thượng Giám đốc đứng ra lo cất trường Huệ Nghiêm năm 1963. Tôi mới nghĩ ra chương tŕnh chuyên khoa dạy Tăng Ni trong ṿng ba năm để đền ơn Thầy Tổ và đàn-na thí chủ. Tôi mới mời Ḥa thượng Bửu Huệ và Ḥa thượng Thiền Tâm cùng về hợp tác mở trường chuyên khoa và chỉ nuôi ba mươi Tăng sinh. Chúng tôi vận động th́ có cư sĩ ủng hộ nuôi từng vị trong ṿng ba năm. Lớp học đó bây giờ c̣n có mặt ở đây là Phước Hảo, Thiện Phát, Nhật Quang. Tôi nghĩ rằng chúng Tăng học trong ba năm có thể hiểu vững được căn bản Phật pháp. Lúc ấy chư Ni bên Dược Sư cũng phát tâm xin mở một lớp chuyên khoa như vậy, có các vị Ni lớn dự học, lớp ấy cũng do chúng tôi chịu trách nhiệm. Như vậy chúng tôi thay phiên nhau giảng dạy một lớp Tăng ở An Dưỡng Địa và một lớp Ni ở Dược Sư, dự định ba năm là tṛn bản nguyện của chúng tôi. Nhưng vừa được một năm rưỡi tức là khoảng cuối năm 1964 th́ Viện Hóa Đạo cho ba trăm Tăng vào ở tại Huệ Nghiêm. Thành thử chúng tôi phải lo cai quản luôn tất cả và mở thêm các lớp phụ vừa học đời vừa học đạo. Chúng tôi lănh trách nhiệm vừa lớp chuyên khoa và các lớp phụ cho đến năm 1966, là xong bản nguyện ba năm giảng dạy của chúng tôi.

            Thế là Tam Bảo đă ưu đăi tôi rồi, phải không? Ước mơ có Tạng Kinh để ṃ mẫm nghiên cứu th́ có Tạng Kinh. Dự định dạy ba mươi Tăng thôi, th́ có thêm một lớp Ni số học chúng cũng tương đương. Sau đó lại trông coi thêm ba trăm Tăng nữa... muốn một mà thành ba thành bốn. Như vậy có phải là Tam Bảo đă ưu đăi tôi không? Muốn ít mà được nhiều.

            Điểm ưu thứ tư:

            Sau ba năm giảng dạy tuy biết việc ở Học viện c̣n bề bộn, và biết rằng Thầy tôi sẽ buồn, nhưng tôi cũng xin rút lui ra Vũng Tàu cất thất ở và đặt tên là Pháp Lạc thất. Thật ra tôi ham tu Thiền. Khi vào đạo tôi đọc lịch sử đức Phật thấy Ngài ngồi thiền dưới cội Bồ-đề và thành Phật. C̣n tôi bây giờ niệm Phật hoài, buồn quá, Phật đâu có niệm Phật mà Ngài thành Phật, tại sao ḿnh không tu giống Phật, ḿnh không phải đệ tử Phật sao? V́ thế tôi quyết định tu Thiền. Tôi ham tu thiền mà không thầy dạy, nên tôi ṃ trong tạng Kinh đọc những bài nói về Thiền. Về Thiền nguyên thủy tôi c̣n hiểu được, về Thiền tông tôi cứ lắc đầu không hiểu nổi, các Thiền sư nói như đùa vậy, hỏi một đường đáp một ngả đâu đâu, nhiều khi c̣n hung hăng đánh nạt, làm nhiều chuyện quái gở không chịu nổi. V́ vậy tôi không tin Thiền tông mà chỉ ứng dụng tu theo Thiền Lục Diệu Pháp Môn, môn Thiền này gồm cả Nguyên thủy và Đại thừa do ngài Trí Khải Đại sư dạy.

            Tôi thật t́nh ham tu Thiền mà tiến th́ không tiến được v́ không người chỉ bảo hướng dẫn, phải tự ṃ mẫm. Trong Lục Diệu Pháp Môn, đầu tiên là Sổ tức, kế đó là Tùy tức, rồi Chỉ, Quán, Hoàn, Tịnh. Sổ tức là đếm hơi thở, tôi làm tốt, qua Tùy tức là theo hơi thở vô ra tôi làm cũng được. Nhưng đến Chỉ, chỉ là dừng, trong đó dạy phải dừng ở trán hoặc ở đầu mũi, hoặc dừng chỗ quả tim nơi ngực, hoặc dừng ở rún. Khi tôi dùng pháp “Chỉ”, tôi dừng ở trán th́ nhức đầu, tôi dừng ở ngực th́ nghe nhói tim, tôi dừng ở rún th́ buồn ngủ. Dừng chỗ nào cũng không được, thành ra tới Chỉ th́ tôi bế tắc không làm sao tu được. Thật là khổ! Tôi quyết tu, mà chặng một chặng hai tôi bước qua được nhưng đến chặng ba th́ bị bế tắc. Không biết làm sao, tôi bèn chuyển qua Ngũ Đ́nh Tâm Quán tức là năm pháp quán để dừng vọng tâm, gồm có: Quán bất tịnh, quán từ bi v.v... tôi sử dụng pháp quán thân bất tịnh, quán cho đến nó hoại ra. Sách dạy quán thân bất tịnh đến khi nào nhớ tới thân, ḿnh cảm thấy rợn người, chịu không nổi muốn ụa mửa, là thành công quán bất tịnh. Nếu ngay đó mà tiếp tục quán nữa th́ chịu không nổi, chán quá rồi có thể tự tử hoặc mượn người khác cắt cổ giùm, chớ không mang nổi cái thây ma này nữa.

            Khi xưa có một lần đức Phật dạy một số Tỳ-kheo quán bất tịnh. Các ngài tu quán bất tịnh đến thuần thục, gớm thân chịu không nổi, nên mượn người khác làm ơn chặt đầu giùm, bao nhiêu y bát xin cúng dường lại. Ông đó giết giùm một lúc mấy mươi thầy Tỳ-kheo. Sau đó, đến ngày tụng giới, họp chúng lại, Phật thấy số thầy Tỳ-kheo sao thưa thớt, c̣n ít quá, mới hỏi lư do. Khi biết các thầy mượn người ta chặt đầu giùm, Phật mới quở: Ta dạy các ông quán bất tịnh để trị bệnh tham dục, chớ không phải quán bất tịnh để mà tự tử, như vậy là sai rồi. Phật bảo sau khi quán bất tịnh thành tựu rồi, tức là nhớ tới thân ḿnh th́ gớm đến rởn óc, th́ phải trở qua quán tịnh. Pháp quán tịnh dạy: Tưởng như ḿnh xẻ da thịt ra một lằn thấy xương trắng (chớ không phải lấy dao xẻ) ḿnh tưởng nó từ là xương trắng mờ mờ, rồi lần lần nó trắng ra cho đến chừng nào nó phát quang là thành tựu quán tịnh.

            Sau khi quán bất tịnh rồi, tôi áp dụng pháp quán tịnh. Tôi tưởng xẻ da thịt ra, rồi tôi quán, sao đau đầu quá, chịu không nổi tôi ngừng. Kế tôi chẻ thêm chỗ khác và quán nữa, đầu tôi nóng và nhức, chịu không nổi. Tôi lại chẻ dưới ngực để quán,  nhưng quán đến đâu th́ đau đến đó, chịu không được, nên ngang đó tôi bị bế tắc. Bế tắc từ Lục Diệu Pháp Môn đến quán bất tịnh, tôi khi ấy cứ ḷng ṿng loanh quanh, không biết đường mà đi, tiến không được, thối cũng không xong. Đời tu của tôi cảm thấy gần như cùng đường rồi.

            Tôi mới đọc qua “Tham Thiền Yếu Chỉ” của ngài Hư Vân, trong ấy có nói về Tu Thoại Đầu. Tôi liền áp dụng ngay quán thoại đầu, tôi dùng câu: “Trước khi cha mẹ chưa sanh ḿnh là ǵ?” và quán măi câu này. Ban đầu đề lên được, một hôm tôi đề, đề hoài nó không lên, tôi không biết làm sao, tiến tới cũng không được mà lui lại cũng không xong. Như vậy mới thấy đời tu ḿnh không có thầy, không có người hướng dẫn thật là khổ vô cùng. Có thể nói gần như tôi bị tới chỗ bế tắc. Tôi chỉ mong ước làm sao biết tu Thiền, pháp Thiền nào cũng được miễn là biết tu Thiền là được rồi. Nhưng tôi tu pháp Thiền nào cũng không xong, coi như đời tu của ḿnh không có kết quả! Xoay qua trở lại từ pháp này sang pháp kia chạy ṿng quanh măi, nhưng tôi gan, nói tu là tu, tất cả ba tạng Kinh đều để trong tủ khoá lại không giở ra đọc cũng không coi một cái ǵ, chỉ c̣n một chuyện tu thôi, tôi cắm đầu miệt mài tu, mà sao cứ lúng túng loanh quanh măi. Buồn quá tôi lạy sám hối và khóc với Phật: “Kiếp trước không biết con bị nghiệp chướng ǵ mà sao tu hành không ra ǵ hết!” Mỗi khi buồn là tôi lạy Phật sám hối. Tôi sám hối đơn giản lắm không có bài bản ǵ. Tôi qú xuống lạy Phật: “Con bị nghiệp chướng sâu dày nên việc tu hành thối chuyển, xin Phật thương gia hộ cho con, có nghiệp chướng ǵ con xin sám hối.” Lạy Phật và khóc với Phật, trong bụng nghĩ sao tôi thật thà thưa như vậy. V́ thế mà Phật thương, bất thần một đêm tôi ngồi thiền bỗng dưng tự tôi sáng được lư Thiền. Khi sáng được lư Thiền th́ tất cả những câu trong kinh Kim Cang hay kinh Pháp Hoa hồi xưa học tôi bị bế tắc, bỗng dưng tôi hiểu hết, hiểu một cách dễ dàng như có ai dạy sẵn ḿnh vậy. Tôi lấy làm lạ quá, tôi chưa tin tôi, tôi mới mở tạng Kinh ra đọc, đến những bộ nói về Thiền khi xưa tôi không hiểu, bây giờ đọc tới đâu tôi hiểu tới đó, hiểu một cách say sưa thích thú. Tôi mới thấy thật là chuyện bất ngờ cho nên tôi cười, cười tới ba bữa, cười hoài, cười một ḿnh thôi. Điều ḿnh thật khổ công t́m, t́m không ra, bây giờ bất thần t́m thấy được quá mừng nên đi đứng nằm ngồi ǵ tôi cũng cười, cười hoài đến ba hôm. Mở Tạng Kinh ra tôi đọc lại sử các Thiền sư tôi hiểu được ngay. Thế là Tam Bảo đă ưu đăi tôi quá rồi, nếu không th́ tôi đă chết trong thất không làm được ǵ. Đây là một sự ưu đăi rất trọng hậu chưa bao giờ có ai được cơ hội tốt như tôi. Không thầy không bạn, ṃ mẫm không ra rồi ráng tu, tự nó sáng ra, hiểu được những điều mà trước kia tôi chưa từng hiểu.

            Tôi thuộc người không kín đáo nên biết cái ǵ th́ phải nói không có giấu giếm, việc này hay quá tại sao ḿnh để nghi ngờ hoài cho uổng, ḿnh phải nói ra cho mọi người cùng hiểu mới được. Lẽ ra tôi phải để năm năm mười năm để nuôi dưỡng thánh thai th́ mới tới chỗ diệu dụng. Nhưng v́ hiểu được, mừng quá nên tôi chuẩn bị mở cửa thất, rồi mở lớp dạy thiền...

            Nói tóm lại đời tu của tôi gặp được nhiều ưu đăi: Ưu đăi số một là tôi vào chùa đúng chỗ, ưu đăi số hai là tôi muốn có Tạng Kinh liền đượïc Tạng Kinh, ưu đăi số ba là tôi muốn dạy Tăng Ni để đền ơn giáo dục của Thầy Tổ th́ tôi được dạy. Đến cái ưu đăi thứ tư này tôi muốn tu thiền mà không có người chỉ dạy, chỉ biết ṃ mẫm một ḿnh, bỗng dưng sáng đạo, như vậy nếu không phải Tam Bảo gia hộ ưu đăi tôi, th́ là ai?

            Từ khi tôi thấy được cái hay (ánh sáng đạo) tôi bắt đầu dịch những quyển Kinh và Sử, mà khi xưa tôi đọc tôi không hiểu ǵ. Dịch ra th́ phải dạy, nếu chỉ đưa sách đă dịch ra cho người đọc, th́ chắc không ai hiểu ǵ. V́ thế tôi mới tuyên bố chuẩn bị mở khoá thứ nhất dạy thiền. Tuy vậy tôi lại dè dặt, nghe người ta nói tu thiền điên, tôi chưa điên là may, nếu chỉ người khác tu mà điên th́ làm sao? Tôi rất quí trọng mạng người, nếu việc làm nào của tôi không có lợi được cho người th́ thôi, chớ tôi không dám làm ǵ hại người, đó là câu thệ nguyện của tôi ngay lúc c̣n là cư sĩ chưa biết đạo. Tôi tự phát nguyện như thế này: “Đời tôi nếu không có thể làm được một viên linh đơn cứu tất cả mạng sống của người, th́ ít ra cũng làm một viên thuốc bổ để cho người bớt khổ.” Có lời nguyện như vậy, nên tôi không bao giờ nỡ để cho ai khổ v́ tôi, cho nên khi thấy được cái hay tôi không thể nào giấu được, không thể im lặng được nên mới mở khoá dạy tu thiền. Để ngừa việc điên có thể xảy ra, trong khoá đầu tôi chỉ chọn mười người thôi. Qua ba năm thấy không có ai điên, nên khoá thứ hai tôi mở ra ba chỗ: Chân Không, Linh Quang (ở Cát Lở - Vũng Tàu), và Bát-nhă trên núi, dành cho bên Ni. Tôi dạy một lượt ba nơi, qua ba năm trả nợ xong th́ tôi nghỉ. Dạy ba nơi, ít ra cũng được sáu mươi người hiểu, họ nói thay cho ḿnh th́ tôi nghỉ. V́ vậy tôi tuyên bố dạy hết khoá hai là tôi nghỉ. Nhưng không biết đây là họa hay là phước, khoá hai bắt đầu năm 1974, đến năm 1975 mới được nửa khóa th́ bất an. Mấy năm trước, khi tu trên núi th́ có thí chủ lo, nay phải tự túc th́ đất núi khô cằn, làm sao tự túc? Bây giờ phải làm sao? - À, phải xuống núi. Thầy tṛ mới dắt nhau xuống núi làm ruộng làm rẫy. Đa số trong chúng đây không biết làm đất, nên tôi phải đứng ra hướng dẫn làm ruộng làm rẫy cho có ăn. V́ hoàn cảnh đă lỡ  bày ra tôi phải làm sao cho trọn vẹn đến nơi đến chốn, tôi phải ăn ở có thủy có chung cho tṛn bản nguyện. Gặp việc khó khăn tôi không đành bỏ mặc, ai làm ǵ th́ làm.

            Lẽ ra tôi được nghỉ năm 1976, nhưng đến bây giờ là năm 1992, mười mấy năm qua rồi tôi vẫn cưu mang buông không được. V́ buông ra th́ chắc rằng kẻ chạy ngược người chạy xuôi, kẻ đi Đông người đi Tây, không làm sao ngồi một chỗ để yên tu, cho nên tôi phải cưu mang. Tăng th́ ở Thường Chiếu, Ni th́ vào Viên Chiếu, cuốc rẫy trồng khoai. Lần lượt ngày qua ngày, việc làm thấy như là thiệt tḥi, nhưng nhờ cực khổ nên chư Tăng Ni lúc đó có kinh nghiệm, trong việc tu hành ít có thối Bồ-đề tâm. Gần đây được nhàn hạ một chút, đa số người tu hơi lôi thôi, có điều ǵ buồn hay khó th́ muốn khăn gói ra đi. Khi trước nhờ cảnh khó nên ai nấy luyện được ư chí chịu cực chịu khổ, không có nản ḷng, gặp cảnh khó không thối tâm, gặp điều ǵ buồn cũng cố gắng chết sống với con đường tu của ḿnh.

            Đến khi xuống núi, tức năm 1986, tôi thầm nghĩ dạy thêm một khoá độ năm mươi Tăng rồi nghỉ là đủ trả nợ rồi. Bên Ni th́ dư số đó. Khi xưa chương tŕnh tu là ba năm, bây giờ kéo dài từ 1986 đến nay (1992) là sáu năm, thời gian gấp đôi. V́ ở trên núi học nhiều hành nhiều mà lao động ít, c̣n về đây th́ lao động nhiều mà học ít, hành ít nên thời gian phải gấp đôi. Như vậy tôi mơ ước bên Tăng được chừng năm mươi vị, c̣n bên Ni nhiều lắm là một trăm, mà nay bên Tăng đến một trăm và bên Ni đến ba, bốn trăm, tôi mong muốn một mà thành hai thành ba. Thế th́ nếu không phải Tam Bảo gia hộ, làm sao tôi làm được việc này.

      Như vậy những điều ǵ tôi mong muốn, Tam Bảo đều cho tôi măn nguyện trội gấp mấy lần điều tôi ước muốn.

            Ngoài ra trong đời tu, tôi c̣n những sở nguyện nhỏ nữa cũng được thành tựu. Như khi học kinh Phật và học Sử, tôi thấy hiện tại ở bên Nam tông th́ Phật giáo Tích Lan là ṛng rặc nhất và tiến bộ hơn các nước khác, ở bên Bắc tông th́ Phật giáo Nhật Bản là thịnh hành và vững vàng hơn cả. V́ vậy tôi mơ ước có cơ hội được qua Ấn Độ chiêm bái những thánh tích của Phật, biết rơ nơi đức Phật sanh ra, thành đạo và nhập Niết-bàn, biết rơ không nghi để hướng dẫn Tăng Ni sau này. Và tôi mơ ước được đi Tích Lan và Nhật Bản để học hỏi những điều hay của các nước đó. Thế là đến năm 1966, tôi được đi Ấn Độ hai mươi ngày, qua Tích Lan một tuần, rồi sau đó tôi qua Nhật Bản ở được hai mươi ngày... thành thử những điều tôi ước muốn đều được toại nguyện. Nếu sau này tôi có đi viếng thêm nơi này nơi khác đó là quá ư muốn của tôi. Tôi luôn luôn được phước, muốn ít mà được nhiều. Bây giờ tôi chưa dám nghĩ sẽ đi đâu v́ tôi chưa nguyện trước, đến lúc đó th́ sẽ tùy duyên.

            Hiện giờ quí vị có biết tôi muốn cái ǵ nữa hay không? Tôi không muốn ǵ hơn là làm Người Vô Sự. V́ thế tôi giao hết mọi việc lại cho quí vị kể từ ngày mồng hai Tết về sau. Tôi làm người vô sự, đi đâu th́ đi, ở đâu th́ ở, ưng đi th́ đi, ưng về th́ về, không có hẹn trước ngày nào đi ngày nào về, đột ngột bất ngờ, cho có tự do một chút. Tỉ dụ như đi từ thất đến chánh điện, có người bưng cái khay đi trước, ḿnh phải đi ngay thẳng đường lối, không dám đi quanh co, mất hết tự do. Nếu có tự do, muốn đi th́ đi, muốn ghé đâu th́ ghé, mệt ngồi xuống lề nghỉ, khỏe đứng dậy đi. Đó là điều tôi mơ ước hiện giờ, mơ ước được làm người vô sự thảnh thơi, mà tôi chưa biết làm được bao lâu. Thật là Tam Bảo đă gia hộ tôi quá nhiều. Chính ngày xưa tôi không tin được giáo lư Đại thừa, nhưng bây giờ tôi lại tin sâu hơn ai hết, tôi tin một cách chắc chắn rằng: Giáo lư Đại thừa là những ḥn ngọc quí mà người ta không thấy được.

            Tại sao tôi tin được giáo lư Đại thừa? Tại sao tôi tin được Thiền tông?

            Sau khi nhận hiểu rồi, tôi mới cảm thông được chỗ đức Phật ngồi dưới cội bồ-đề. Trước kia Ngài đă từng đi học với những tu sĩ nổi tiếng đương thời đă chứng đạo quả. Tuy nhiên, khi học Ngài thấy chỗ sở đắc của những vị đó chưa thỏa măn sở nguyện của Ngài, tức là chưa có giải thoát sanh tử. V́ thế Ngài bỏ đi, cuối cùng Ngài ngồi tọa thiền dưới cội bồ-đề. Toạ thiền tức là lóng lặng nội tâm, nghĩa là tâm không c̣n xao động, không c̣n dấy niệm th́ mới được định. Từ khi Ngài tọa thiền được định rồi, bỗng dưng đêm mùng tám tháng chạp Ngài giác ngộ. Giác ngộ tức là thấy rơ được manh mối nào khiến con người phải đi vào đường sanh tử, và làm cách ǵ cắt đứt được ḍng sanh tử để giải thoát, gọi là giải thoát sanh tử. Thấy rơ ràng không c̣n nghi ngờ, và thấy luôn cả những ǵ gần xa nhỏ lớn Ngài đều thấy hết biết hết. Ngài tuyên bố rằng: Ngài giác ngộ thành đạo là tự Ngài phát ra chớ không có ai dạy, cho nên Ngài nói Ngài học đạo không có thầy. Nói học đạo không thầy, thật khó hiểu quá, người ta học có thầy, tại sao Ngài học không thầy? Nhưng chính sự thật là Ngài học đạo không thầy, chỉ tâm Ngài an định rồi trí tuệ phát sáng. Từ chỗ đó tôi nhớ lại trong khi tôi đang loanh quanh lẩn quẩn không ai khai sáng giùm tôi, rồi tự tôi ráng ngồi thiền, tâm tôi được phần nào yên tĩnh, tự nó sáng ra. Như vậy tôi tu có thầy không? Cũng không có thầy. Tôi mới thấy rơ chỗ đức Phật giác ngộ không thầy, mà ḿnh bây giờ cũng tự sáng lên được. V́ thế tôi tin được Kinh điển Đại thừa, Kinh điển Đại thừa luôn luôn nói rằng: Tất cả chúng ta đều có tánh giác, tức là Phật tánh. Tánh giác đó đang bị vô minh che phủ, nếu màn vô minh thưa mỏng th́ tánh giác hiện ra. Nếu không có tánh giác th́ làm sao ngộ? Nếu không có tánh giác th́ làm sao bỗng dưng sáng được lẽ đó. Trong nhà Thiền gọi đó là Vô sư trí, tức là trí không có thầy. Hiểu được Vô sư trí hay là Tánh giác rồi th́ thấy tất cả Kinh điển Đại thừa đều chỉ cái đó, bao nhiêu Kinh điển Đại thừa cũng đều xoay quanh trọng tâm đó. Cho nên trong kinh thường nói: nhất thật tướng ấn, tức là chỉ có tâm thể chân thật là duy nhất, như trong kinh Pháp Hoa nói: Chỉ có một Phật thừa, nếu nói có hai có ba là không đúng. Thế nên nếu chúng ta nhận được lẽ đó rồi th́ đọc bao nhiêu Kinh điển Đại thừa chúng ta đều thấy trùng hợp không sai khác. Rồi từ đó tôi mới tin sâu Kinh điển Đại thừa và tôi thấy thật là hay đáo để, tôi mới đem Kinh điển Đại thừa ra giảng dạy. Thật ra khi xưa tôi học tôi không tin, th́ làm sao tôi hiểu, nếu hiểu được tức tôi đă tin rồi.

            Như vậy kinh Đại thừa tôi không hiểu, thiền tôi cũng không biết nhưng tôi cố gắng tu cố gắng học, rồi tự nó sáng ra được, hiểu được kinh, biết được thiền, tất cả đều do tâm yên tịnh rồi nó phát ra. Nếu không có trí vô sư làm ǵ có được điều đó. Như vậy chúng ta mới hiểu được đức Phật ngồi yên tịnh, Ngài giác ngộ. Hiểu được điều đó rồi th́ mọi việc chung quanh ḿnh hiểu hết không c̣n nghi ngờ.

            Giáo lư Đại thừa ngày xưa không hiểu mà ngày nay chúng tôi hiểu được, cũng không phải là do thầy dạy. Nếu thầy dạy th́ khi xưa tôi hiểu tôi tin rồi, mà khi xưa tôi không tin, tức là thầy dạy cũng dạy văn tựï thôi, c̣n chỗ thật tôi cũng chưa nhận được. Sau này qua kinh nghiệm bản thân, qua cái thấy được, cái nhận được nơi ḿnh, tôi mới tin được Kinh điển Đại thừa. Qua kinh nghiệm bản thân tôi mới tin đức Phật ngồi dưới cội bồ-đề thành Phật. Tôi tin được điều đó thật là rơ ràng không c̣n nghi ngờ ǵ nữa. Cho nên sau này tôi giảng kinh tôi cười hoài v́ tôi thấy hay quá, thật là thích thú. Khi xưa tôi có làm bài thơ “Người Mù”, (rất tiếc là tôi đă quên) tả hoàn cảnh người quờ quạng đụng tấm vách này, đụng tấm vách kia, u đầu xể trán mà không biết đường ra, v́ không thấy đường. Khi ḿnh thấy được rồi, thật là mừng, mới thấy Phật pháp thật là hay đáo để và chúng ta là đại phước đức mới được ở trong nhà Phật pháp. Những điều Phật nói là một lẽ thật, không có chỗ nào là không thật, nhưng v́ ḿnh không biết nên mới nghi ngờ. Thí dụ kinh nói: tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, th́ quí vị có nghi ngờ không? Ḿnh thấy Phật tánh bao giờ đâu, nói ḿnh có mà ḿnh không thấy cũng như không có. Nhưng khi có tu rồi, chúng ta mới thấy rơ ràng ḿnh có, cho nên mới phát ra, nếu không có làm sao phát ra? Thế rồi tôi tin lời Phật nói tất cả chúng sanh đều sẽ thành Phật. Tại sao tôi dám khẳng định như vậy? V́ đức Phật cũng là chúng sanh.

            Khi xưa tôi học Kinh điển Đại thừa nói đức Phật mười chín tuổi xuất gia tôi chấp nhận. Kinh Nguyên thủy nói đức Phật hai mươi chín tuổi xuất gia tôi không đồng ư, v́ sao? V́ Ngài ở trong cung lâu quá, hưởng dục lạc rất nhiều, thấy Ngài sao tầm thường quá mà đi xuất gia mau thành Phật, nên tôi không chấp nhận. Nhưng bây giờ tôi lại khen Ngài. Hai mươi chín tuổi xuất gia tức là hợp lư, Ngài có đến mấy người con. Tại sao tôi khen Ngài? V́ Ngài là con người, khi c̣n ở trong cảnh thế gian Ngài cũng như mọi người thế gian không hơn không kém, Ngài cũng hưởng dục lạc, có nhiều vợ có nhiều con. Mới nh́n qua thấy Ngài sống hết sức là tầm thường. Nhưng chính từ cái tầm thường đó Ngài tu Ngài giác ngộ. Từ một con người rất là b́nh thường như chúng ta, Ngài giác ngộ và thành Phật, cũng như mầm sen ở dưới bùn, trồi lên thành một đóa hoa nên luôn luôn để Ngài ngự trên ṭa sen là hết sức hợp lư. Từ một con người như chúng ta, Ngài tu thành Phật th́ chúng ta hiện giờ cũng là những con người tầm thường nếu chúng ta ráng tu như Ngài th́ nhất định cũng thành. Nếu đức Phật từ trên trời rơi xuống, thanh tịnh sáng suốt hơn tất cả thiên hạ, th́ chúng ta mới vô phần.

            Đức Phật là con người ban đầu rất là b́nh thường, nhưng v́ có Phật tánh, Ngài khéo dẹp trừ vô minh để Phật tánh sáng ra th́ Ngài thành Phật. Chúng ta cũng có Phật tánh, tuy ở trong cảnh phàm tục, nhưng nếu biết tu th́ chúng ta cũng giác ngộ, điều đó không nghi ngờ. V́ chúng ta có sẵn tánh giác nên khui trúng chỗ th́ nó phát sáng ra. Nếu không có sẵn tánh giác, khui mấy cũng không sáng nổi. V́ có sẵn tánh giác, nên ai khéo tu th́ cũng có thể giác ngộ được; nh́n lại Kinh điển Đại thừa, tôi thấy điều này rất là rơ ràng.

            Tuy nhiên trong kinh A-hàm đức Phật nói rằng ngài Đề-bà-đạt-đa không có một chút thiện cho nên nhất định phải đọa địa ngục. Rồi sau này tôi cũng đọc kinh A-hàm trong một bài đức Phật nói rằng: Đề-bà-đạt-đa tuy bây giờ đọa địa ngục nhưng sau này sẽ hết nghiệp chướng, được tu, rồi cũng sẽ được chứng quả thành Phật. Thế nên chúng ta thấy một người làm tội lỗi tuy rằng hiện tại rất khổ, nhưng v́ có sẵn hạt giống lành nên sau khi trả hết nghiệp, cũng có duyên trở lại tu, rồi sẽ thành Phật. V́ vậy bây giờ tôi cởi mở hơn khi xưa nhiều. Khi xưa ai tu nửa chừng rồi ra đời, tôi ghét lắm v́ không làm đến nơi đến chốn uổng một đời tu. Nhưng bây giờ tôi lại cảm thông, v́ khi ra đời trả hết nghiệp, họ trở lại tu nữa, rồi có ngày cũng thành Phật, tuy hơi muộn hơi lâu một chút. Chỉ cần cho họ tu, họ cần xuất gia thọ giới th́ cho xuất gia thọ giới. Nếu bị trần duyên trói buộc th́ họ trở lại đời. Nếu giẫy giụa thoát khỏi th́ họ trở lại tu. Hột giống gieo rồi th́ không có mất, Phật dạy rất rơ như vậy.

            Qua những điều tôi vừa kể, quí vị thấy những ước nguyện của tôi đều thành tựu mà thành gấp bội phần. Như vậy Tam Bảo đă gia hộ và ưu đăi tôi tối đa. Tôi tin sâu rằng Tam Bảo không bao giờ bỏ những người quyết chí tu hành. Tôi thường nói với chư Tăng: Chỉ sợ không tu chớ đừng lo Tam Bảo không gia hộ ḿnh. Trong kinh thường nói: Chúng sanh bỏ Phật, chớ Phật không bỏ chúng sanh. V́ chúng ta không chịu tu nên bỏ Phật, chớ Phật không lúc nào bỏ chúng ta. Chúng ta tin sâu Tam Bảo, rồi tất cả Phật sự sẽ được viên măn. Những người không có ḷng tin mới bị Tam Bảo bỏ rơi. Chữ “tin” ở đây là do ḿnh nhận chân được lẽ thật rồi ḿnh tin, chớ không phải tin bằng cách cúng lạy rồi Tam Bảo gia hộ. Chúng ta có nhiệt t́nh đối với đạo, chúng ta có nhiệt t́nh trên đường tu hành th́ chúng ta sẽ được Tam Bảo gia hộ chớ không có bỏ sót.

            Đến những cái khó của tôi trong khi làm Phật sự.

            Khóa thứ nhất ở Chân Không chúng tôi có được mười Tăng sinh, con số khiêm nhường như vậy tưởng đâu dạy trọn ba năm ít ra cũng được đủ mười người. Không ngờ dạy mới có ba tháng th́ có ba vị: Thiện Ấn, Thiện Năng và Thông Lạc rủ nhau ra đi. Rồi đến Đắc Huyền cũng bắt chước chạy theo. Khóa học mười người mới có ba tháng mà rút đi hết bốn người, nếu không có can đảm th́ cũng mất tinh thần nhiều lắm. Tuy nhiên tôi đă học được ở Ḥa thượng Viện trưởng Thầy tôi, Ngài nói: Tôi dạy lớp học ba mươi, bốn mươi người, dù lớp học c̣n một, hai người, tôi cũng dạy. Theo gương đó, tôi nói c̣n mấy chú tôi dạy mấy chú, nhất định măn ba năm mới thôi. Kế một, hai tuần sau Đắc Huyền trở về sám hối, đến Thiện Năng vài ba tháng sau cũng về sám hối. Bốn người ra đi th́ hai người trở về, c̣n hai người th́ đi luôn, một người về Trảng Bàng tu, một người th́ ra đời có hai, ba đứa con. Quí vị thấy làm Phật sự đâu phải lúc nào cũng đều như nguyện, có những trục trặc mà ḿnh phải lập chí, phải cương quyết làm đến nơi cho tṛn.

            Khóa học thứ hai th́ có những khó khăn ở nội bộ. Cuộc sống đang lỉnh kỉnh bất ổn, Tăng Ni sinh phải lo tự túc th́ Định Huệ bất thần kiếm chuyện rút lui làm rộn cho tôi. Đến chuyến chót này, năm ngoái đây Như Thủy làm rối ren một lúc. Như vậy cái ǵ thành công đâu phải có một chiều, có những trục trặc bên trong chớ không phải lúc nào cũng xuôi thuận. Đó là ba chặng khó trong nội bộ mà tôi phải trải qua.

      Song chủ trương của tôi là định làm việc ǵ th́ phải làm đến nơi đến chốn, khi nào xong mới thôi. Gặp khó khăn tôi lại cương quyết phải duy tŕ, tôi phải trải thân ra lo. Khi nào thấy dễ tôi mới buông, buông mà vẫn tu được, tôi không ngại, tôi dám buông. V́ vậy mà qua những cái khó.

            C̣n có cái khó của ngoại cảnh. Thiền viện ở trên núi nhờ quí Phật tử ủng hộ nên Tăng sinh làm công tác mỗi ngày hai tiếng đồng hồ tượng trưng thôi cho có sức khỏe, chớ không đặt thành vấn đề tự túc. Trong bản Thanh qui  ban đầu, tôi nói chủ trương của chúng tôi là nhờ Phật tử giúp đỡ để cho Tăng Ni tu hành chớ không có làm kinh tế tự túc. Nhưng rồi hoàn cảnh đổi thay, tức nhiên Thanh qui cũng phải đổi thay. Tăng Ni không thể trông cậy vào Phật tử nữa, mà phải chuyển qua tự túc, đó là vấn đề cay đắng chớ không phải đơn giản. Làm sao nuôi dưỡng được tinh thần hăng hái tu, hăng hái lao động của Tăng Ni? Cho nên lúc đó tôi mới cho họ dùng những bài ca bài hát ở ngoài đồng để họ đỡ buồn, nếu bắt làm việc cực quá chai tay rồi ai cũng chán. V́ vậy có nhiều người nói tôi sao dễ quá, Thiền viện ǵ mà ca hát om ṣm. Nếu bắt Tăng Ni đi cuốc cả ngày mà không cho vui một chút th́ làm sao làm nổi, nhưng ca hát những bài đạo lư chớ không phải nói việc tầm thường thế gian. Bây giờ th́ tôi cấm ca hát, v́ hiện nay phương tiện sống cũng tương đối đủ, Tăng Ni làm cũng vừa phải, không có cực lắm th́ đâu cần vui, vừa làm vừa tu trong yên lặng, đâu cần ǵ phải ca hát.

            Đời tu của tôi có những cái dễ nhưng cũng gặp những cái khó. Trong cái khó thật ra tôi không tính toán cũng không suy nghĩ phải làm sao, tôi chỉ âm thầm xin Tam Bảo gia hộ. Ai làm ǵ nói ǵ, tôi cứ lặng thinh mà chịu chờ Tam Bảo gia hộ, rồi cái tốt đẹp sẽ đến, tôi không có phản ứng để chống chọi ǵ hết. Điều quan trọng của người tu không phải ở chỗ khôn lanh xảo trá, mà ở chỗ chân thật biết tu. Chúng ta khôn trong đạo đức chớ không nên khôn trong mưu mẹo thế gian. Thế nên tôi mong rằng tất cả quí vị  cố gắng tập làm sao giữ được tư cách một người tu là một người chân thật. Trong kinh Duy-ma-cật có câu: “trực tâm thị đạo tràng” nghĩa là tâm ngay thẳng là đạo tràng. Đừng nghĩ rằng ḿnh phải dùng nhiều xảo thuật để có phương tiện, có tiền, hay để thu hút nhân tâm, chỉ cần ḿnh chân thành đối với tất cả Tăng Ni  và Phật tử. Tôi thường nói với ḷng chân thành: “Tôi là kẻ nợ của Tăng Ni, nhưng ai đ̣i th́ tôi trả, ai chưa đ̣i th́ tôi hẹn.” Bởi sức ḿnh hữu hạn, trả nợ một lượt không kham, ai đ̣i sớm th́ trả sớm, ai chưa đ̣i th́ để  dành đó sẽ trả sau. Tôi thấy tôi là kẻ nợ, chớù không phải là người ban ơn ban phúc cho ai hết. Mắc nợ, bổn phận tôi phải trả, tôi không nghĩ tôi  ban ơn cho người này, giúp đỡ người kia rồi bắt họ nhớ ơn tôi. Tôi nói như vậy với tất cả ḷng chân thành của tôi. Và nhân ḷng chân thành đó Tăng Ni cảm thông và thương mến tôi, chớ tôi không có xảo thuật riêng để thu hút người. Ai tới cũng vậy, đạo lư thế nào tôi nói thế ấy, không có ư riêng tư hoặc dỗ dành riêng ai.

            Thành thật mà nói, tôi là một người khó. V́ sao? V́ tôi đặt trách nhiệm cho tôi quá nặng. Tôi làm hàng rào phía sau Thiền viện, có nhiều vị mỉa mai nói: tôi giữ mấy ông thầy c̣n hơn là giữ con gái nữa. Tôi đặt trạm phía trước tại nhà khách, có thầy Tri khách trông coi, nếu có ai đi ra th́ báo cáo. Ở phía sau có cửa hậu để ra ruộng, cửa có ch́a khóa do Trụ tŕ hay Tri sự giữ không cho lơi lỏng. Chung quanh chùa một bên có rào, một bên có các bà xuất gia lớn tuổi, nếu có ai trong Thiền viện đi lông bông bị các bà báo cáo. Như vậy tôi bố trí đâu đó nghiêm mật, nếu có điều ǵ tôi liền biết không giấu giếm tôi được.

            Tại sao tôi phải khó? Tại v́ tôi ở nhiều chùa, nhiều trường Phật học, tôi thấy, tôi biết. Có nhiều người phát tâm tu rất tốt, nhưng khi vào chùa gặp hoàn cảnh không thuận lợi, họ nhiễm  lần lần rồi trở thành xấu! Lỗi đó tại ai? Có phải tại người hướng dẫn không khéo bảo hộ để cho họ phải thối tâm? V́ vậy tôi đặt trách nhiệäm là tôi phải bảo hộ, nếu ai c̣n ở với tôi ngày nào là tôi phải bảo hộ họ ngày ấy. Dù tu không được giải thoát ngay trong hiện tại, ít ra họ cũng là một vị Tăng thanh tịnh có đức hạnh, đó là bổn phận của tôi. Khi nào họ ra ngoài tầm tay tôi th́ tôi hết bổn phận. Thành ra có nhiều vị ở đây cũng hơi buồn, sao mà đi đâu cũng bị rầy hoài! Cái khó của tôi là do trách nhiệm, do bổn phận của tôi phải làm như vậy. Nếu quí vị ra khỏi đây rồi thôi, làm ǵ th́ làm tôi không có nói ǵ hết, v́ nó quá tầm tay của tôi.

            Chư Tăng ở đây giả sử như tu không có tiến một trăm phần trăm như ư ḿnh muốn, chỉ được chừng hai mươi, ba mươi phần trăm thôi, tôi cũng bảo đảm rằng mấy chú cũng sẽ là Tăng sĩ tốt xứng đáng. Nếu các chú bỏ đây ra đi th́ có thể tưởng tượng rằng ḿnh sẽ được một trăm phần trăm, nhưng thật ra tôi chưa dám tin điều đó, có thể được mà cũng có thể sẩy chân bất cứ lúc nào, v́ bên ngoài trơn trợt lắm, có đủ điều kiện để cho ḿnh sẩy chân. V́ thế ở đây có ai xin đi, nếu tôi khuyên đừng đi th́ ngại người khác hiểu lầm rằng tôi lợi dụng giữ chúng cho đông để Phật tử cúng dường nhiều, nên ai xin đi th́ tôi sẵn sàng cho, nhưng đến th́ khó.V́ sao tôi lại đặt như vậy? V́ tôi cảm thông với đức Phật. Khi Phật nói kinh Pháp Hoa, rồi có năm trăm vị Tỳ-kheo thối tịch, Phật bảo: Thôi hột lép gió bay, c̣n lại hột chắc. Có chỗ khác Phật nói: ‘‘Thà một ngày hoàn tục cả năm trăm vị Tăng, c̣n hơn là ở trong đạo mà phá giới.” Như vậy Phật chấp nhận cho ra đời chớ không muốn ḿnh ở trong đạo mà hư hỏng. Cũng thế những vị đến với tôi th́ rất khó, phải có điều kiện tôi mới nhận, nhưng khi không muốn ở th́ tôi sẵn sàng cho đi chớ không có năn nỉ. Có nhiều chú từ bi hơn tôi, thấy huynh đệ muốn đi th́ theo khuyên lơn, c̣n tôi th́ gật đầu cho đi. Như vậy người lớn từ bi hơn hay người nhỏ từ bi hơn? Mới nh́n h́nh như người nhỏ từ bi hơn v́ năn nỉ khuyên lơn đừng đi. C̣n tôi khi thấy một người không muốn ở, ḿnh cố khuyên, họ có ở lại cũng không được vui, nếu họ làm điều ǵ sai ḿnh rầy, họ nói:

            “tôi không muốn ở, tại quí vị xúi giục hay bắt buộc tôi ở”, cho nên ḿnh rầy không được. C̣n người phát nguyện ở để tu th́ ḿnh có bổn phận bảo vệ họ kỳ cùng đến nơi đến chốn.

            Như vậy quí vị mới thấy người lớn là người mang một trọng trách nặng nề đối với người nhỏ, trọng trách đó ḿnh tự thấy tự đặt ra chớ không có ai bắt buộc. Tự tôi thấy ḿnh đă tu th́ ḿnh phải lo cho những người tu, ḿnh đă biết th́ phải giúp cho những người chưa biết, ḿnh thấy cái hay th́ nói cho người ta cùng thấy. Như vậy trên đường đạo chúng ta cùng d́u dắt nhau, chớ không thể âm thầm hưởng cái vui riêng mà không chia sớt cho người. Lập trường của tôi là rơ ràng như  vậy, nghĩa là muốn làm sao cho tất cả đều được an ổn vui tươi.

            Đức Phật là bậc Đạo sư tức là người thầy dẫn đường, biết đường và đi trước, chớ không bao giờ thầy dẫn đường lại đi sau. Bây giờ quí vị cảm thông cho tôi, khi c̣n ở trên Chân Không, tôi hứa dạy xong khóa thứ nh́ từ năm 1974 đến năm 1976, th́ tôi sẽ nghỉ để chuyên tu, v́ tôi thấy nhưng tôi chưa hành đến nơi đến chốn. Tôi định nghỉ để tôi hành. Nhưng duyên không cho phép tôi nghỉ, nên tôi tiếp tục dạy cho đến ngày nay, th́ trên đầu tôi không c̣n sợi tóc đen nào, lại thêm bệnh hoạn. Như vậy ngang đây tôi nghỉ có vừa chưa? - Vừa quá rồi! Tôi nghỉ không phải để nhàn hạ thảnh thơi, mà chính là để làm việc khác. Tôi nghỉ việc giảng dạy giáo hóa Tăng Ni bằng ngôn ngữ văn tự, nhưng tôi phải làm những việc bằng hành động và tư cách. Những ngày nghỉ của tôi là những ngày chuyên tu, tôi phải cắm đầu làm việc đó để ít ra khi nhắm mắt tôi được tự chủ năm bảy mươi phần trăm, nếu chưa được hoàn toàn. Tôi không thể chỉ nói cho hay rồi tự măn, mà phải làm cho được những ǵ tôi nói. Đó là trách nhiệm của người dẫn đường, dẫn đường là phải đi trước. Tôi khuyên quí vị tu mà tôi không tu th́ làm sao? Những ǵ tôi thấy tôi đă nói hết để quí vị ứng dụng tu. Bây giờ tôi phải thực hành được, để thấy rằng những điều tôi nói là lẽ thật, nếu quí vị ứng dụng như vậy th́ sẽ có lợi ích lớn. Đây là điều thiết yếu chúng tôi cần phải nêu lên cho quí vị thấy rơ.

            Trên đường tu thời gian rất là quí báu, nếu tôi c̣n sống thêm năm bảy năm nữa, thời gian đó tôi ứng dụng thực hành. Khi chưa thấy đường th́ công phu ḿnh đi cứ loanh quanh lẩn quẩn v́ không biết đâu là mục đích. Nếu thấy đường rồi th́ công phu của ḿnh dù không tới đích ít ra cũng tiến được khá dài. Thế nên khi tôi buông mọi việc coi như tôi thảnh thơi, nhưng thật ra muốn làm người vô sự không phải là dễ, làm người đa sự thấy khó mà dễ, làm người vô sự mới thật là khó. V́ vậy tôi mong rằng thời gian tôi làm người vô sự, quí vị đừng mang những điều đa sự đến thưa kiện khiếu nại hay than van: Từ ngày Thầy đi, Thiền viện chúng con bơ vơ đói thiếu v.v... Quí vị phải gan dạ chịu đựng để cho tôi được vô sự, th́ có lợi cho tôi mà cũng có lợi cho quí vị, đừng níu kéo làm mất th́ giờ của tôi vô ích. Tôi buông là buông dứt khoát chớ không có buông nửa chừng, níu kéo tôi chỉ thêm nhọc nhằn thôi, không có lợi ǵ cho cả hai bên. Đó là ư tôi muốn nhắc nhở trong đêm hôm nay.

            Đây là buổi Tất niên chót tôi dự tại Thiền viện Thường Chiếu. Từ đây về sau tôi không có dự nữa, dù có mặt ở đây tôi cũng im lặng, vô sự mà! Tôi chỉ mong sao thời gian làm người vô sự của tôi kéo dài một chút để tôi đủ thời giờ làm được kha khá. Trước khi im lặng, tôi mong rằng tất cả quí vị biết rơ ư và việc làm của tôi từ thủy chí chung như thế nào, quí vị rút kinh nghiệm và cảm thông để cho tôi được yên mà làm một việc rất cầøn thiết cho đời tu của tôi.

            Khi trao gánh nặng lại cho quí vị lănh đạo các Thiền viện, điều mong mỏi duy nhất của tôi là tất cả chúng ta đều thành thật lo cho Phật pháp, và chân thành thương những người sau chúng ta, đặt ḿnh là kẻ có trách nhiệm có bổn phận chớ không phải ḿnh là người ban ơn ban phúc. Nếu có ai không nghĩ nhớ tới ḿnh th́ thôi, biết ơn hay không cũng được. Họ đi ngang ḿnh không chào cũng thôi, không nên bắt lỗi làm chi, cứ làm hết bổn phận ḿnh là vui. V́ là người mang nợ, ḿnh trả được nợ là khoẻ thôi, trả xong nợ là yên ḷng ḿnh. Mong rằng quí vị hiểu chủ trương này của tôi, và phải nhớ rơ khi làm Phật sự gặp lúc khó khăn chính là lúc ḿnh phải giữ vững trách nhiệm. Khi nào dễ, có người thay ḿnh được khi ấy mới buông. Đừng thấy khó rồi quăng đi, đó là người vô trách nhiệm. Hăy chân thành lo cho đạo, quyết chí tu th́ khó cũng thành dễ, phải có thiện tâm thiện chí tối đa th́ mọi việc đều tốt đẹp.

            Những điều hay dở trong cuộc sống của tôi, tôi đă kể ra cho quí vị nghe, mong rằng tất cả hăy cố gắng thực hiện được những điều hay và lợi ích với tinh thần trách nhiệm và ḷng chân thành lo cho đạo pháp.

]


H̉N NGỌC QUÍ TRONG NÚI LỬA

TẾT NHÂM THÂN (1992)

(Tăng Ni)

Ngày đầu Xuân tất cả Tăng Ni và Phật tử về đây để chúc mừng năm mới, nhân đây chúng tôi nhắc nhở đôi lời để quí vị có đủ tư lương tiến tu trên đường giải thoát.